Hiện nay, các bệnh về xương khớp ngày càng trở nên phổ biến, không chỉ ở những người già mà cả những người trẻ đôi khi cũng có thể bị ảnh hưởng do những vận động mạnh. Và hậu quả di chứng mà nó mang lại là không hề nhỏ đối với người bệnh. Một trong số đó là bệnh thoát vị đĩa đệm. Căn bệnh này ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động sinh hoạt hàng ngày, gây ra những cơn đau cho người bệnh khi vận động và một loạt di chứng đi kèm nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.
Những di chứng do thoat vi dia dem gây ra
Bất kì các bộ phận nào của cột sống đều có thể bị thoát vị đĩa đệm, điển hình nhất là bệnh thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng. Khi bị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng bệnh nhân sẽ cảm thấy đau tê mỏi vùng thắt lưng và cảm giác chân cơ yếu dần đi…Bệnh này rất phổ biến và có thể gây ra nhiều di chứng nến không được chữa trị kịp thời…
Ảnh minh họa: Di chứng do thoát vị đĩa đệm gây ra
Hậu quả của quá trình thoái hóa đĩa đệm?
Đĩa đệm là một khoang giữa 2 đốt sống gồm vòng sợi, nhân nhầy và mâm sụn của 2 đốt sống trên và dưới. Vòng sợi chứa một chất dịch cơ bản, được nuôi dưỡng bởi sự trao đổi chất giữa trong và ngoài đĩa đệm qua các lớp của vòng sợi được xem như màng bán thấm. Đĩa đệm không có mạch máu nuôi dưỡng riêng mà chỉ được tưới máu theo phương thức khuếch tán. Bởi vậy, khi cột sống không chuyển động, ở tư thế không đổi quá lâu sẽ tạo nên sự ngưng trệ trao đổi chất nuôi dưỡng nên dần dần sẽ bị thoái hóa. Thoái hóa đĩa đệm làm mất khả năng căng phồng để chống đỡ và phân bố lực ép nén ra toàn đĩa đệm. Hậu quả cuối cùng là đĩa đệm xẹp, rách, nứt tạo đường cho nhân nhầy luồn thoát ra ngoài vòng sợi, gây chèn ép hàng loạt các tổ chức liền kề như mạch máu (động mạch sống), các rễ thần kinh, các sợi thần kinh từ tủy chạy ra chui qua lỗ tiếp hợp. Nhiều lỗ tiếp hợp của mỗi đốt sống liên kết với nhau tạo thành một ống xương. Trường hợp khối thoát vị lớn và nhiều tầng sẽ lấn vào trong ống sống làm hẹp ống sống và chèn ép luôn tủy sống. Bình thường đường kính trước- sau của ống sống, đoạn giữa cột sống cổ là 15mm, nếu nhỏ hơn số đó được coi như hẹp ống sống.
Thoát vị đĩa đệm cột sống gây nên hậu quả gì?
Ảnh minh họa: Hậu quả của thoát vị đĩa đệm cột sống
Thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ) chèn ép động mạch sống gây nên tình trạng thiếu máu nuôi dưỡng não, hình thành “hội chứng thiếu máu não cục bộ sau những cơn thiếu máu não cục bộ tạm thời liên tiếp. TVĐĐ chèn ép cả hệ thần kinh giao cảm cổ, gây nên hội chứng giao cảm cổ sau rất phức tạp về triệu chứng lâm sàng như đối với tim và các nội tạng khác. TVĐĐ chèn ép các rễ thần kinh chạy từ tủy sống ra để chi phối thần kinh cho các khu vực đai vai và hai tay. TVĐĐ chèn ép rễ thần kinh cổ 2, 3 gây đau dây thần kinh chẩm lớn ở phía sau đầu. Tủy sống bị chèn ép sẽ gây rối loạn vận động tay chân. Trường hợp TVĐĐ lớp, nhiều tầng còn gây nên liệt nửa người hoặc liệt hai chân.
Dấu hiệu nhận biết bệnh
Cơn đau do thoát bị đĩa đệm thường tái phát nhiều lần, mỗi đợt kéo dài khoảng 1-2 tuần, sau đó lại khỏi. Có khi đau âm ỉ nhưng thường đau dữ dội, đau tăng khi ho, hắt hơi, cúi.
Cảm giác kiến bò, tê cóng, kim châm tương ứng với vùng đau. Đối với thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, thường có triệu chứng như: Đau vùng cổ, gáy, vai, dọc theo cánh tay. Tê cánh tay, bàn tay, các ngón tay. Teo, yếu cơ cánh tay, ngón tay.
Đối với thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, thường có triệu chứng như: Đau, tê vùng thắt lưng, mông, dọc theo đùi, cẳng chân, bàn chân. Teo, yếu cơ đùi, cẳng chân, bàn chân. Dần dần, đau trở nên thường xuyên, kéo dài hàng tháng nếu không được điều trị.
Khả năng vận động của bệnh nhân bị giảm sút rõ rệt.
Những di chứng sau khi bị thoát vị đĩa đệm
Thoát vị đĩa đệm chèn ép vào rễ thần kinh, tủy sống gây các triệu chứng đau, tê, teo cơ, liệt cơ.
Khi rễ thần thần kinh bị tổn thương thì bệnh nhân khó vận động các chi.
Nếu tổn thương thần kinh cánh tay thì bệnh nhân không thể nhấc tay hay khó gấp, duỗi cánh tay, khả năng lao động và sinh hoạt bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Bệnh có thể để lại những hậu quả và những biến chứng nguy hiểm cho người bệnh. Người bệnh có thể bị tàn phế do bị liệt trong trường hợp đĩa đệm thoát vị chèn ép tuỷ cổ.
Khi bị chèn ép các dây thần kinh vùng thắt lưng cũng có thể dẫn đến đại tiểu tiện không tự chủ do rối loạn cơ tròn. Các chi dần bị teo cơ, có thể mất khả năng lao động và vận động.
>> Xem thêm: viem da khop dang thap
(Nguồn: http: artrex.vn, namanduoc.com)

Những di chứng do thoát vị đĩa đệm

Hiện nay, các bệnh về xương khớp ngày càng trở nên phổ biến, không chỉ ở những người già mà cả những người trẻ đôi khi cũng có thể bị ảnh hưởng do những vận động mạnh. Và hậu quả di chứng mà nó mang lại là không hề nhỏ đối với người bệnh. Một trong số đó là bệnh thoát vị đĩa đệm. Căn bệnh này ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động sinh hoạt hàng ngày, gây ra những cơn đau cho người bệnh khi vận động và một loạt di chứng đi kèm nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.
Những di chứng do thoat vi dia dem gây ra
Bất kì các bộ phận nào của cột sống đều có thể bị thoát vị đĩa đệm, điển hình nhất là bệnh thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng. Khi bị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng bệnh nhân sẽ cảm thấy đau tê mỏi vùng thắt lưng và cảm giác chân cơ yếu dần đi…Bệnh này rất phổ biến và có thể gây ra nhiều di chứng nến không được chữa trị kịp thời…
Ảnh minh họa: Di chứng do thoát vị đĩa đệm gây ra
Hậu quả của quá trình thoái hóa đĩa đệm?
Đĩa đệm là một khoang giữa 2 đốt sống gồm vòng sợi, nhân nhầy và mâm sụn của 2 đốt sống trên và dưới. Vòng sợi chứa một chất dịch cơ bản, được nuôi dưỡng bởi sự trao đổi chất giữa trong và ngoài đĩa đệm qua các lớp của vòng sợi được xem như màng bán thấm. Đĩa đệm không có mạch máu nuôi dưỡng riêng mà chỉ được tưới máu theo phương thức khuếch tán. Bởi vậy, khi cột sống không chuyển động, ở tư thế không đổi quá lâu sẽ tạo nên sự ngưng trệ trao đổi chất nuôi dưỡng nên dần dần sẽ bị thoái hóa. Thoái hóa đĩa đệm làm mất khả năng căng phồng để chống đỡ và phân bố lực ép nén ra toàn đĩa đệm. Hậu quả cuối cùng là đĩa đệm xẹp, rách, nứt tạo đường cho nhân nhầy luồn thoát ra ngoài vòng sợi, gây chèn ép hàng loạt các tổ chức liền kề như mạch máu (động mạch sống), các rễ thần kinh, các sợi thần kinh từ tủy chạy ra chui qua lỗ tiếp hợp. Nhiều lỗ tiếp hợp của mỗi đốt sống liên kết với nhau tạo thành một ống xương. Trường hợp khối thoát vị lớn và nhiều tầng sẽ lấn vào trong ống sống làm hẹp ống sống và chèn ép luôn tủy sống. Bình thường đường kính trước- sau của ống sống, đoạn giữa cột sống cổ là 15mm, nếu nhỏ hơn số đó được coi như hẹp ống sống.
Thoát vị đĩa đệm cột sống gây nên hậu quả gì?
Ảnh minh họa: Hậu quả của thoát vị đĩa đệm cột sống
Thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ) chèn ép động mạch sống gây nên tình trạng thiếu máu nuôi dưỡng não, hình thành “hội chứng thiếu máu não cục bộ sau những cơn thiếu máu não cục bộ tạm thời liên tiếp. TVĐĐ chèn ép cả hệ thần kinh giao cảm cổ, gây nên hội chứng giao cảm cổ sau rất phức tạp về triệu chứng lâm sàng như đối với tim và các nội tạng khác. TVĐĐ chèn ép các rễ thần kinh chạy từ tủy sống ra để chi phối thần kinh cho các khu vực đai vai và hai tay. TVĐĐ chèn ép rễ thần kinh cổ 2, 3 gây đau dây thần kinh chẩm lớn ở phía sau đầu. Tủy sống bị chèn ép sẽ gây rối loạn vận động tay chân. Trường hợp TVĐĐ lớp, nhiều tầng còn gây nên liệt nửa người hoặc liệt hai chân.
Dấu hiệu nhận biết bệnh
Cơn đau do thoát bị đĩa đệm thường tái phát nhiều lần, mỗi đợt kéo dài khoảng 1-2 tuần, sau đó lại khỏi. Có khi đau âm ỉ nhưng thường đau dữ dội, đau tăng khi ho, hắt hơi, cúi.
Cảm giác kiến bò, tê cóng, kim châm tương ứng với vùng đau. Đối với thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, thường có triệu chứng như: Đau vùng cổ, gáy, vai, dọc theo cánh tay. Tê cánh tay, bàn tay, các ngón tay. Teo, yếu cơ cánh tay, ngón tay.
Đối với thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, thường có triệu chứng như: Đau, tê vùng thắt lưng, mông, dọc theo đùi, cẳng chân, bàn chân. Teo, yếu cơ đùi, cẳng chân, bàn chân. Dần dần, đau trở nên thường xuyên, kéo dài hàng tháng nếu không được điều trị.
Khả năng vận động của bệnh nhân bị giảm sút rõ rệt.
Những di chứng sau khi bị thoát vị đĩa đệm
Thoát vị đĩa đệm chèn ép vào rễ thần kinh, tủy sống gây các triệu chứng đau, tê, teo cơ, liệt cơ.
Khi rễ thần thần kinh bị tổn thương thì bệnh nhân khó vận động các chi.
Nếu tổn thương thần kinh cánh tay thì bệnh nhân không thể nhấc tay hay khó gấp, duỗi cánh tay, khả năng lao động và sinh hoạt bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Bệnh có thể để lại những hậu quả và những biến chứng nguy hiểm cho người bệnh. Người bệnh có thể bị tàn phế do bị liệt trong trường hợp đĩa đệm thoát vị chèn ép tuỷ cổ.
Khi bị chèn ép các dây thần kinh vùng thắt lưng cũng có thể dẫn đến đại tiểu tiện không tự chủ do rối loạn cơ tròn. Các chi dần bị teo cơ, có thể mất khả năng lao động và vận động.
>> Xem thêm: viem da khop dang thap
(Nguồn: http: artrex.vn, namanduoc.com)
Đọc thêm..
Theo thông tin điều tra và thống kê ở nước ngoài, có khoảng 30% dân số trên 30 tuổi có dấu hiệu thoái hóa khớp, 80% những người lớn trên 60 tuổi là có thoái hóa khớp. Khi nghe 3 từ "thay khớp gối" bạn sẽ phản ứng ra sao? Dường như nó rất kinh hãi không chỉ đối với người dân thông thường mà cả giới y khoa thông thuộc lĩnh vực chấn thương chỉnh hình cũng vậy. Chỉ một ít phần những người bị bệnh xương khớp quá nặng không còn biện pháp khắc phục mới bắt buộc phải thay khớp. Còn hơn 90% kia là chúng tôi nhận được câu hỏi nên ăn những đồ ăn gì hay hạn chế ăn những đồ ăn gì để bổ sụn khớp, để duy trì sụn khớp không bị hư.
Những người bị thoái hóa khớp hay thấy khớp mình kêu lạo xạo khi cử động gây đau, đi khám bác sĩ thường hay giải thích khớp bị khô nhớt nên phải cho uống chất nhờn hay bơm chất nhờn vào khớp.
Ảnh minh họa: Khớp bình thường và khớp bị thoái hóa
1. Dịch nhày hay chất nhờn của xương khớp là gì?
Trong khớp của con người có chất acid hyaluronic với thành phần khoảng 3mg/1ml dịch khớp. Người ta ước tính một người 70kg sẽ có khoảng 15g acid này. Vai trò của acid này trong khớp nhằm tạo độ nhớt của dịch khớp giúp bôi trơn khớp và chống sốc.
Khi chúng ta đi chậm dịch khớp có tác dụng bôi trơn, khi chúng ta đi nhanh dịch khớp có tác dụng chống sốc làm giảm áp lực lên sụn khớp giúp duy trì tuổi thọ sụn khớp. Ngoài ra acid hyaluronic còn có tác dụng kháng viêm bằng cách ức chế tác dụng của TNF- α, IL-1, dọn sạch các gốc tự do. Acid này có tác dụng giảm đau bằng việc ức chế thụ thể gây đau nociceptor.
Ảnh minh họa: Viêm đa khớp
Chính vì vai trò quan trọng như vậy nên khi nồng độ acid này giảm xuống ví dụ như trong trường hợp bị thoái hóa khớp sẽ làm khớp bị lực tác động khi đi gây đau, khớp hay bị viêm biểu hiện bằng việc gối bị sưng rồi xẹp xuống nhiều lần. Mọi biện pháp tiêm chất nhờn chính là bước đầu cung cấp lại acid này cho dịch khớp, bước kế tiếp là thực phẩm chức năng bổ khớp giảm đau tái tạo tế bào sụn khớp sinh ra acid này nhằm duy trì khả năng bảo về sụn khớp của acid hyaluronic.
2. Thực phẩm dinh dưỡng bổ sung chất nhờn cho sụn khớp.
Trong chế độ dinh dưỡng, người bị thấp khớp cần chú ý tới những loại thực phẩm giàu vitamin C, D, E, một số loại acid béo có tác dụng tốt với khớp.
- Acid béo hệ Omega-3: Acid này có nhiều trong các loại cá giàu chất béo, có khả năng ngăn chặn phản ứng của hệ miễn dịch gây ra chứng viêm khớp, làm thuyên giảm các triệu chứng của bệnh.
Những loại cá giàu acid béo hệ Omega-3 gồm: Cá hồi, cá thu, cá trích, cá mòi, cá ngừ… Bên cạnh đó, dầu cá có thể loại bỏ tình trạng cứng khớp buổi sáng và làm giảm số lần đau khớp ở những bệnh nhân viêm khớp mạn tính.
- Vitamin C và D có khả năng cải thiện bệnh viêm xương – khớp. Vitamin E như đậu tương, giá đỗ, vừng, lạc, mầm lúa mạch, hạt hướng dương có tác dụng giảm đau chống viêm.
- Với những người bị viêm khớp, nên ăn nhiều bắp cải. Loại rau này giống như một chất bôi trơn, làm linh hoạt chuyển động các khớp.
- Một thực phẩm khác là cà chua cũng rất tốt cho người bị thấp khớp nhờ hàm lượng lycopen và chất carotenoit chống ôxy hoá. Một cốc nước ép cà chua chín mỗi ngày thực sự rất cần thiết cho việc bảo vệ sụn.
- Một vài nhánh tỏi ăn sống hoặc chế biến cùng thức ăn cũng rất tốt cho khớp. Và nếu bạn thích ăn các loại rau thơm như như hành, húng, mùi tây, cà rốt, rau diếp thì đó đều là những thực phẩm được khuyên dùng cho người bệnh thấp khớp.
Ngoài ra, bạn cũng nên mua một số thực phẩm chức năng bổ sung với chế độ dinh dưỡng để có một hệ xương khớp chắc khỏe. Hiện nay, trên thị trường cũng có rất nhiều loại thuốc bổ khớp rất tốt cho bạn lựa chọn như Arthor 7, Arthor 8, Glucosamine, ...
Cần chú ý chế độ ăn uống đừng theo kiểu ngon thì ăn quá mức còn đạm bạc thì nhịn đói vì như thế sẽ dễ làm tăng ký. Khi trọng lương cơ thể tăng sẽ mau làm hư khớp gối hơn.
3. Những thực phẩm cần tránh.
Ảnh minh họa: thịt bò
Giảm lượng phốt-pho đưa vào cơ thể. Vì nếu lượng phốt-pho cao sẽ dẫn đến giảm canxi. Canxi bị mất đi nhiều sẽ làm bệnh tiến triển xấu đi. Thực phẩm giàu phốt-pho là thịt, phủ tạng, thịt đã qua chế biến. Thịt đỏ cũng chứa nhiều a-xít uric không tốt cho bệnh nhân.
Thịt đỏ và các sản phẩm bơ sữa cần giảm mặc dù  những thực phẩm này rất giàu protein, vitamin và khoáng chất bởi vì chúng chứa nhiều chất béo bão hòa làm tăng viêm.
Nói không với đồ ăn nhanh, thức ăn sẵn, thức ăn chiên quá kỹ và nhiều dầu . Những loại thực phấm hấp dẫn này chứa quá nhiều dầu và chất béo.
Tránh các thực phẩm có thể gây ra dị ứng vì chúng càng làm cho tình trạng viêm trở nên tồi tệ hơn như ngô, sản phẩm bơ sữa đã qua chế biến, quả thuộc họ cam quýt.
Giảm muối, đường và rượu vì chúng làm giảm sự hấp thu can-xi của cơ thể. Ngoài ra, các đồ uống ngọt cũng nên tránh bởi chúng chứa rất nhiều đường và hàm lượng phốt-pho cao.
Thực phẩm giàu a-xít oxalic như nam việt quất, mận, củ cải cũng không nên ăn.
Một chế độ ăn hợp lý chắc chắn sẽ giúp giảm viêm ở các khớp và giảm đau do viêm khớp. Ngoài ra bệnh nhân cần kiểm soát cân nặng, bởi có những nghiên cứu chỉ ra rằng các mô mỡ sản xuất ra các hormone trực tiếp dẫn đến viêm và đau.
>> Xem thêm: thoat vi dia dem
(Nguồn: benhviemkhop.net)

Chế độ dinh dưỡng cho người bị bệnh xương khớp

Theo thông tin điều tra và thống kê ở nước ngoài, có khoảng 30% dân số trên 30 tuổi có dấu hiệu thoái hóa khớp, 80% những người lớn trên 60 tuổi là có thoái hóa khớp. Khi nghe 3 từ "thay khớp gối" bạn sẽ phản ứng ra sao? Dường như nó rất kinh hãi không chỉ đối với người dân thông thường mà cả giới y khoa thông thuộc lĩnh vực chấn thương chỉnh hình cũng vậy. Chỉ một ít phần những người bị bệnh xương khớp quá nặng không còn biện pháp khắc phục mới bắt buộc phải thay khớp. Còn hơn 90% kia là chúng tôi nhận được câu hỏi nên ăn những đồ ăn gì hay hạn chế ăn những đồ ăn gì để bổ sụn khớp, để duy trì sụn khớp không bị hư.
Những người bị thoái hóa khớp hay thấy khớp mình kêu lạo xạo khi cử động gây đau, đi khám bác sĩ thường hay giải thích khớp bị khô nhớt nên phải cho uống chất nhờn hay bơm chất nhờn vào khớp.
Ảnh minh họa: Khớp bình thường và khớp bị thoái hóa
1. Dịch nhày hay chất nhờn của xương khớp là gì?
Trong khớp của con người có chất acid hyaluronic với thành phần khoảng 3mg/1ml dịch khớp. Người ta ước tính một người 70kg sẽ có khoảng 15g acid này. Vai trò của acid này trong khớp nhằm tạo độ nhớt của dịch khớp giúp bôi trơn khớp và chống sốc.
Khi chúng ta đi chậm dịch khớp có tác dụng bôi trơn, khi chúng ta đi nhanh dịch khớp có tác dụng chống sốc làm giảm áp lực lên sụn khớp giúp duy trì tuổi thọ sụn khớp. Ngoài ra acid hyaluronic còn có tác dụng kháng viêm bằng cách ức chế tác dụng của TNF- α, IL-1, dọn sạch các gốc tự do. Acid này có tác dụng giảm đau bằng việc ức chế thụ thể gây đau nociceptor.
Ảnh minh họa: Viêm đa khớp
Chính vì vai trò quan trọng như vậy nên khi nồng độ acid này giảm xuống ví dụ như trong trường hợp bị thoái hóa khớp sẽ làm khớp bị lực tác động khi đi gây đau, khớp hay bị viêm biểu hiện bằng việc gối bị sưng rồi xẹp xuống nhiều lần. Mọi biện pháp tiêm chất nhờn chính là bước đầu cung cấp lại acid này cho dịch khớp, bước kế tiếp là thực phẩm chức năng bổ khớp giảm đau tái tạo tế bào sụn khớp sinh ra acid này nhằm duy trì khả năng bảo về sụn khớp của acid hyaluronic.
2. Thực phẩm dinh dưỡng bổ sung chất nhờn cho sụn khớp.
Trong chế độ dinh dưỡng, người bị thấp khớp cần chú ý tới những loại thực phẩm giàu vitamin C, D, E, một số loại acid béo có tác dụng tốt với khớp.
- Acid béo hệ Omega-3: Acid này có nhiều trong các loại cá giàu chất béo, có khả năng ngăn chặn phản ứng của hệ miễn dịch gây ra chứng viêm khớp, làm thuyên giảm các triệu chứng của bệnh.
Những loại cá giàu acid béo hệ Omega-3 gồm: Cá hồi, cá thu, cá trích, cá mòi, cá ngừ… Bên cạnh đó, dầu cá có thể loại bỏ tình trạng cứng khớp buổi sáng và làm giảm số lần đau khớp ở những bệnh nhân viêm khớp mạn tính.
- Vitamin C và D có khả năng cải thiện bệnh viêm xương – khớp. Vitamin E như đậu tương, giá đỗ, vừng, lạc, mầm lúa mạch, hạt hướng dương có tác dụng giảm đau chống viêm.
- Với những người bị viêm khớp, nên ăn nhiều bắp cải. Loại rau này giống như một chất bôi trơn, làm linh hoạt chuyển động các khớp.
- Một thực phẩm khác là cà chua cũng rất tốt cho người bị thấp khớp nhờ hàm lượng lycopen và chất carotenoit chống ôxy hoá. Một cốc nước ép cà chua chín mỗi ngày thực sự rất cần thiết cho việc bảo vệ sụn.
- Một vài nhánh tỏi ăn sống hoặc chế biến cùng thức ăn cũng rất tốt cho khớp. Và nếu bạn thích ăn các loại rau thơm như như hành, húng, mùi tây, cà rốt, rau diếp thì đó đều là những thực phẩm được khuyên dùng cho người bệnh thấp khớp.
Ngoài ra, bạn cũng nên mua một số thực phẩm chức năng bổ sung với chế độ dinh dưỡng để có một hệ xương khớp chắc khỏe. Hiện nay, trên thị trường cũng có rất nhiều loại thuốc bổ khớp rất tốt cho bạn lựa chọn như Arthor 7, Arthor 8, Glucosamine, ...
Cần chú ý chế độ ăn uống đừng theo kiểu ngon thì ăn quá mức còn đạm bạc thì nhịn đói vì như thế sẽ dễ làm tăng ký. Khi trọng lương cơ thể tăng sẽ mau làm hư khớp gối hơn.
3. Những thực phẩm cần tránh.
Ảnh minh họa: thịt bò
Giảm lượng phốt-pho đưa vào cơ thể. Vì nếu lượng phốt-pho cao sẽ dẫn đến giảm canxi. Canxi bị mất đi nhiều sẽ làm bệnh tiến triển xấu đi. Thực phẩm giàu phốt-pho là thịt, phủ tạng, thịt đã qua chế biến. Thịt đỏ cũng chứa nhiều a-xít uric không tốt cho bệnh nhân.
Thịt đỏ và các sản phẩm bơ sữa cần giảm mặc dù  những thực phẩm này rất giàu protein, vitamin và khoáng chất bởi vì chúng chứa nhiều chất béo bão hòa làm tăng viêm.
Nói không với đồ ăn nhanh, thức ăn sẵn, thức ăn chiên quá kỹ và nhiều dầu . Những loại thực phấm hấp dẫn này chứa quá nhiều dầu và chất béo.
Tránh các thực phẩm có thể gây ra dị ứng vì chúng càng làm cho tình trạng viêm trở nên tồi tệ hơn như ngô, sản phẩm bơ sữa đã qua chế biến, quả thuộc họ cam quýt.
Giảm muối, đường và rượu vì chúng làm giảm sự hấp thu can-xi của cơ thể. Ngoài ra, các đồ uống ngọt cũng nên tránh bởi chúng chứa rất nhiều đường và hàm lượng phốt-pho cao.
Thực phẩm giàu a-xít oxalic như nam việt quất, mận, củ cải cũng không nên ăn.
Một chế độ ăn hợp lý chắc chắn sẽ giúp giảm viêm ở các khớp và giảm đau do viêm khớp. Ngoài ra bệnh nhân cần kiểm soát cân nặng, bởi có những nghiên cứu chỉ ra rằng các mô mỡ sản xuất ra các hormone trực tiếp dẫn đến viêm và đau.
>> Xem thêm: thoat vi dia dem
(Nguồn: benhviemkhop.net)
Đọc thêm..
Không chỉ người già mà nhiều bạn trẻ hiện nay thường hay ca cẩm với nhau chứng đau lưng, đau vai, đau gáy. Có những lúc cơn đau rất dữ dội và chỉ cần ngồi lâu, hay mang vác vật nặng là đã bị đau. Những cơn đau thường xuyên, đó là do dấu hiệu của bệnh thoát vị đĩa đệm khá phổ biến hiện nay.
Ảnh minh họa: Thoát vị đĩa đệm
thoat vi dia dem hiện được chia làm 4 giai đoạn.
- Giai đoạn 1, vòng xơ chưa rách,nhưng nhân nhầy kém tiết dịch khiến bệnh nhân có biểu hiện là tê chân. Lúc nàybệnh nhân chỉ cần điều trị bằng thuốc và phục hồi chức năng.
- Giai đoạn 2, vòng xơ đã rách một phần, bệnh nhân thấy đau lưng và tê chân nhiều hơn. Biện pháp tốt nhất hiện nay là điều trị bằng sóng cao tần.
- Giai đoạn 3, 4 vòng xơ đã rách hẳn, nhân nhầy thoát ra ngoài, chèn ép vào các dây thần kinh. Khi đó điều trị bằng thuốc hay phục hồi chức năng không còn hiệu quả.
Với những người mà khối thoát vị chèn ép quá nhiều vào dây thần kinh, gây đau đớn, thậm chí là không đi lại được thì một giải pháp tiên tiến được tính đến hiện nay là mổ nội soi để lấy khối thoát vị này ra khỏi cột sống. Vậy khi đã biết trước những hậu quả mà căn bệnh này mang lại chúng ta nên phòng bệnh để tránh những hậu quả đáng tiếc.
1. Các biện pháp phòng tránh
Để phòng tránh thoát vị đĩa đệm cần phải rèn luyện một cơ thể khỏe mạnh và đặc biệt là một cột sống vững chắc, ngay từ tuổi trẻ bằng chế độ ăn uống và sinh hoạt hợp lý.
Điều quan trọng là biết giữ gìn tư thế cột sống đúng trong sinh hoạt hằng ngày. Trẻ em cần ngồi học đúng tư thế, tránh mang vác nặng. Điều đó giúp phòng tránh tật gù vẹo cột sống, là một yếu tố nguy cơ gây thoát vị đĩa đệm.
Người trưởng thành cần chú ý tránh khiêng vác vật nặng, nhất là bê vật nặng ở tư thế cúi lom khom. Hiện nay, các nhân viên văn phòng thường ngồi làm việc liên tục hàng giờ liền bên máy vi tính.
Điều đó làm cho cơ vai, cổ phải co cứng thường xuyên để giữ đầu cố định, gây chứng đau vai, gáy. Ngoài ra cột sống cổ cũng phải gánh tải trọng của đầu trong thời gian dài, làm tăng áp lực lên đĩa đệm. Kết quả là đĩa đệm cột sống cổ dễ bị thoái hóa và thoát vị.
Ngồi lâu kéo dài trong tư thế gò bó cũng ảnh hưởng tiêu cực đến cột sống thắt lưng và cũng là yếu tố nguy cơ thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng. Do vậy sau khi ngồi khoảng 1 giờ cũng nên đứng dậy nghỉ ngơi 5-10 phút, vừa bảo vệ mắt lại vừa giữ gìn đĩa đệm cột sống.
Cũng cần tránh mọi chấn thương cho cột sống, tránh ngã dồn mông xuống đất. Tránh tuyệt đối các động tác thể thao hoặc vận động quá mức và kéo dài.
Khi đã bị thoát vị đĩa đệm rồi thì cần phải áp dụng bổ sung các biện pháp dự phòng bệnh tái phát. Bệnh nhân cần bỏ rượu, thuốc lá, giảm cân với những người béo phì, tránh những căng thẳng quá mức về tâm lý. Thực hiện các động tác sinh hoạt hằng ngày thích nghi với tình trạng đau cột sống thắt lưng.
Để tránh tải trọng quá mức lên cột sống, bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng cần đeo đai lưng hay bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống cổ cần đeo yếm cổ. Cần tập thể dục nhẹ nhàng thường xuyên, không quá sức để nâng cao thể lực.
Ảnh minh họa: Tập thể dục thường xuyên
Bệnh nhân bị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng cần áp dụng các bài tập tăng cường sự dẻo dai của các khối cơ lưng và cơ bụng. Có thể đi bộ trên nền phẳng, bơi, đạp xe.
Cần chú ý rằng đi xe máy, ô tô trên đường xóc, mấp mô cũng là một nguy cơ gây thoát vị đĩa đệm cột sống. Do vậy, người bị thoát vị đĩa đệm cần tránh đi xe đường xóc.
Nếu cần phải đi ô tô, xe máy thì cần đeo đai lưng. Ngoài ra cần điều trị kịp thời các bệnh lý cột sống. Cần cải thiện điều kiện làm việc, hạn chế các sang chấn về tinh thần, chấn thương do lao động. Thích nghi với nghề nghiệp: tránh các nghề như lái mô tô, máy kéo… Tuy nhiên, bệnh nhân khi có biểu hiện của bệnh cần đến khám ở cơ sở y tế chuyên khoa để được chẩn đoán và điều trị bệnh kịp thời.
2. Các phương pháp điều trị
Điều trị thoát vị đĩa đệm có các biện pháp bao gồm điều trị nội khoa, Đông y, vật lý trị liệu, phục hồi chức năng và cả ngoại khoa. Trong các trường hợp nhẹ có thể chỉ cần uống thuốc và tập thể dục phù hợp là khỏi, nhưng thường người bệnh phát hiện ra muộn, khi có biến chứng như liệt, teo cơ, rối loạn cơ tròn, nên phải áp dụng các biện pháp nặng hơn, như trước đây phổ biến là phẫu thuật. Gần đây, người ta bắt đầu sử dụng sóng radio để điều trị.
“Ưu điểm nổi bật của kỹ thuật bằng sóng radio đó là bệnh nhân chỉ bị gây tê tại chỗ, không mất máu. Đáng nói là thời gian phẫu thuật chỉ khoảng 20 phút và hầu như không gây biến chứng. Sau phẫu thuật, bệnh nhân sẽ được ra viện trong ngày, thay vì phải nằm viện 3 đến 4 ngày như trước đây và không cần phải chăm sóc đặc biệt sau phẫu thuật”. Cơ sở áp dụng thành công phương pháp này là Phòng khám An Thái, nhưng để xác định phương pháp điều trị phù hợp, người bệnh nên đến khám để được bác sĩ tư vấn phương pháp điều trị cụ thể.
>> Xem thêm: benh xuong khop
(Nguồn: vietbao.vn)

phòng tránh bệnh thoát vị đĩa đệm

Không chỉ người già mà nhiều bạn trẻ hiện nay thường hay ca cẩm với nhau chứng đau lưng, đau vai, đau gáy. Có những lúc cơn đau rất dữ dội và chỉ cần ngồi lâu, hay mang vác vật nặng là đã bị đau. Những cơn đau thường xuyên, đó là do dấu hiệu của bệnh thoát vị đĩa đệm khá phổ biến hiện nay.
Ảnh minh họa: Thoát vị đĩa đệm
thoat vi dia dem hiện được chia làm 4 giai đoạn.
- Giai đoạn 1, vòng xơ chưa rách,nhưng nhân nhầy kém tiết dịch khiến bệnh nhân có biểu hiện là tê chân. Lúc nàybệnh nhân chỉ cần điều trị bằng thuốc và phục hồi chức năng.
- Giai đoạn 2, vòng xơ đã rách một phần, bệnh nhân thấy đau lưng và tê chân nhiều hơn. Biện pháp tốt nhất hiện nay là điều trị bằng sóng cao tần.
- Giai đoạn 3, 4 vòng xơ đã rách hẳn, nhân nhầy thoát ra ngoài, chèn ép vào các dây thần kinh. Khi đó điều trị bằng thuốc hay phục hồi chức năng không còn hiệu quả.
Với những người mà khối thoát vị chèn ép quá nhiều vào dây thần kinh, gây đau đớn, thậm chí là không đi lại được thì một giải pháp tiên tiến được tính đến hiện nay là mổ nội soi để lấy khối thoát vị này ra khỏi cột sống. Vậy khi đã biết trước những hậu quả mà căn bệnh này mang lại chúng ta nên phòng bệnh để tránh những hậu quả đáng tiếc.
1. Các biện pháp phòng tránh
Để phòng tránh thoát vị đĩa đệm cần phải rèn luyện một cơ thể khỏe mạnh và đặc biệt là một cột sống vững chắc, ngay từ tuổi trẻ bằng chế độ ăn uống và sinh hoạt hợp lý.
Điều quan trọng là biết giữ gìn tư thế cột sống đúng trong sinh hoạt hằng ngày. Trẻ em cần ngồi học đúng tư thế, tránh mang vác nặng. Điều đó giúp phòng tránh tật gù vẹo cột sống, là một yếu tố nguy cơ gây thoát vị đĩa đệm.
Người trưởng thành cần chú ý tránh khiêng vác vật nặng, nhất là bê vật nặng ở tư thế cúi lom khom. Hiện nay, các nhân viên văn phòng thường ngồi làm việc liên tục hàng giờ liền bên máy vi tính.
Điều đó làm cho cơ vai, cổ phải co cứng thường xuyên để giữ đầu cố định, gây chứng đau vai, gáy. Ngoài ra cột sống cổ cũng phải gánh tải trọng của đầu trong thời gian dài, làm tăng áp lực lên đĩa đệm. Kết quả là đĩa đệm cột sống cổ dễ bị thoái hóa và thoát vị.
Ngồi lâu kéo dài trong tư thế gò bó cũng ảnh hưởng tiêu cực đến cột sống thắt lưng và cũng là yếu tố nguy cơ thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng. Do vậy sau khi ngồi khoảng 1 giờ cũng nên đứng dậy nghỉ ngơi 5-10 phút, vừa bảo vệ mắt lại vừa giữ gìn đĩa đệm cột sống.
Cũng cần tránh mọi chấn thương cho cột sống, tránh ngã dồn mông xuống đất. Tránh tuyệt đối các động tác thể thao hoặc vận động quá mức và kéo dài.
Khi đã bị thoát vị đĩa đệm rồi thì cần phải áp dụng bổ sung các biện pháp dự phòng bệnh tái phát. Bệnh nhân cần bỏ rượu, thuốc lá, giảm cân với những người béo phì, tránh những căng thẳng quá mức về tâm lý. Thực hiện các động tác sinh hoạt hằng ngày thích nghi với tình trạng đau cột sống thắt lưng.
Để tránh tải trọng quá mức lên cột sống, bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng cần đeo đai lưng hay bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống cổ cần đeo yếm cổ. Cần tập thể dục nhẹ nhàng thường xuyên, không quá sức để nâng cao thể lực.
Ảnh minh họa: Tập thể dục thường xuyên
Bệnh nhân bị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng cần áp dụng các bài tập tăng cường sự dẻo dai của các khối cơ lưng và cơ bụng. Có thể đi bộ trên nền phẳng, bơi, đạp xe.
Cần chú ý rằng đi xe máy, ô tô trên đường xóc, mấp mô cũng là một nguy cơ gây thoát vị đĩa đệm cột sống. Do vậy, người bị thoát vị đĩa đệm cần tránh đi xe đường xóc.
Nếu cần phải đi ô tô, xe máy thì cần đeo đai lưng. Ngoài ra cần điều trị kịp thời các bệnh lý cột sống. Cần cải thiện điều kiện làm việc, hạn chế các sang chấn về tinh thần, chấn thương do lao động. Thích nghi với nghề nghiệp: tránh các nghề như lái mô tô, máy kéo… Tuy nhiên, bệnh nhân khi có biểu hiện của bệnh cần đến khám ở cơ sở y tế chuyên khoa để được chẩn đoán và điều trị bệnh kịp thời.
2. Các phương pháp điều trị
Điều trị thoát vị đĩa đệm có các biện pháp bao gồm điều trị nội khoa, Đông y, vật lý trị liệu, phục hồi chức năng và cả ngoại khoa. Trong các trường hợp nhẹ có thể chỉ cần uống thuốc và tập thể dục phù hợp là khỏi, nhưng thường người bệnh phát hiện ra muộn, khi có biến chứng như liệt, teo cơ, rối loạn cơ tròn, nên phải áp dụng các biện pháp nặng hơn, như trước đây phổ biến là phẫu thuật. Gần đây, người ta bắt đầu sử dụng sóng radio để điều trị.
“Ưu điểm nổi bật của kỹ thuật bằng sóng radio đó là bệnh nhân chỉ bị gây tê tại chỗ, không mất máu. Đáng nói là thời gian phẫu thuật chỉ khoảng 20 phút và hầu như không gây biến chứng. Sau phẫu thuật, bệnh nhân sẽ được ra viện trong ngày, thay vì phải nằm viện 3 đến 4 ngày như trước đây và không cần phải chăm sóc đặc biệt sau phẫu thuật”. Cơ sở áp dụng thành công phương pháp này là Phòng khám An Thái, nhưng để xác định phương pháp điều trị phù hợp, người bệnh nên đến khám để được bác sĩ tư vấn phương pháp điều trị cụ thể.
>> Xem thêm: benh xuong khop
(Nguồn: vietbao.vn)
Đọc thêm..
thoat vi dia dem là bệnh lý phổ biến trong cuộc sống hiện nay. Bệnh thoát vị đĩa đệm gây ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của người bệnh. Hiện nay, y học ngày càng phát triển và tạo ra rất nhiều phương pháp chữa bệnh khác nhau. Một trong những phương pháp ấy là chữa bệnh bằng thuốc nam. Nhiều người đã thoát khỏi bệnh thoát vị đĩa đệm nhờ bài thuốc nam được chiết xuất hoàn toàn từ thảo dược tươi và chắc chắn đó cũng là mong muốn của nhiều người bệnh khác.
1. Biểu hiện của bệnh thoát vị đĩa đệm
Bệnh thoát vị gây nên những cơn đau nhức thường xuyên và âm ỉ. Tùy theo từng vị trí bị thoát vị người ta có thể chia ra từng trường hợp khác nhau, về cơ bản bệnh thoát vị đĩa đệm được chia thành hai vùng:
- Bệnh thoát vị đĩa đệm cột sống cổ: Bệnh nhân thường có triệu chứng đau dọc vùng gáy, đau mỏi nhừ kéo sang bả vai và cánh tay. Có những bệnh nhân có cảm giác tê bì dọc cánh tay, thậm chí kéo tới làm tê bì mất cảm giác của bàn tay, đốt ngón tay. Có người bệnh còn có triệu chứng đau bốc lên đỉnh đầu, thậm chí hoa mắt, chóng mặt, đau tức hốc mắt.
- Bệnh thoát vị đĩa đệm thắt lưng: Bệnh nhân có biểu hiện đau vùng ngang thắt lưng, đau liên sườn. Ngoài ra bệnh nhân còn có biểu hiện đau dọc vùng mông kéo xuống chân, có thể gây tê bì chân hoặc có nhưng cơn đau rút chân khi cúi, ngửa.. Có người bệnh khi ngồi lâu, thường bị những cơn đau lưng dữ dội, phải nằm nghiêng bất động.
2. Nguyên nhân gây nên bệnh thoát vị đĩa đệm
Ảnh minh họa: Thoát vị đĩa đệm
Đĩa đệm được cấu tạo như đĩa hình tròn nằm giữa những đốt xương. Phần bao bọc bên ngoài của đĩa đệm được gọi là bao xơ đĩa đệm, phần nằm bên trong được gọi là nhân nhầy đĩa đệm (dạng gel). Trong cuộc sống thường thấy 3 nguyên nhân chính gây nên bệnh thoát vị đĩa đệm:
1. Bệnh do yếu tố di truyền: Nếu bố mẹ có cấu trúc đĩa đệm yếu thì con cũng rất dễ bị mắc bệnh.
2. Bệnh do quá trình hoạt động, lao động bị sai tư thế nghiêm trọng hoặc do chấn thương cột sống đột ngột
3. Bệnh gây nên do quá trình thoái hóa (Đây là trường hợp thoát vị phổ biến nhất):
Quá trình thoái hóa cột sống tác động tới bao xơ đĩa đệm làm vòng bao xơ trở nên xơ cứng, mất đi tính dẻo dai. Khi đó người bệnh không nhất thiết phải mang vác các vật nặng sai tư thế nhưng vẫn mắc bệnh. Bởi lẽ, bao xơ đĩa đệm bị xơ cứng bây giờ chỉ chịu được một áp lực giới hạn rất nhỏ. Khi rách bao xơ làm cho nhân nhầy thoát ra chèn ép vào rễ thần kinh gây nên bệnh thoát vị.
3. Hậu quả của bệnh thoát vị đĩa đệm:
Sau khi bệnh thoát vị diễn ra, nó sẽ gây nên các hậu quả ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống của người bệnh. Khả năng lao động và vận động trong sinh hoạt của bệnh nhân bị giảm sút nghiêm trọng. Ngoài những cơn đau đớn thường ngày, nếu không được chữa trị kịp thời bệnh nhân có thể bị teo cơ, teo các chi thậm chí còn có thể bị tàn phế suốt đời nếu thoát vị chèn ép vào tủy cổ.
4. Chữa khỏi bệnh thoát vị đĩa đệm:
Trong nền y học hiện nay, phương pháp điều trị thường được quan tâm nhất là phẫu thuật, tuy nhiên để phẫu thuật đĩa đệm là một vấn đề không đơn giản, bởi lẽ liền kề với đĩa đệm là hệ thống tổ chức dây thần kinh rất phức tạp, bất cứ sai sót nào trong quá trình phẫu thuật có thể dẫn đến biến chứng mà bệnh tình không hề suy giảm.
Bài thuốc gia truyền điều trị gồm 2 loại thuốc chính là: Bài Thuốc Uống và Bài Thuốc Đắp. Khi bệnh nhân đến thăm khám trực tiếp tại nhà thuốc, đội ngũ lương y sẽ thăm khám để biết ngoài tổn thương hệ thống cột sống thì bệnh nhân có bị tổn thương vùng cơ hay không. Tùy từng trường hợp, bệnh nhân được chỉ định áp dụng thêm liệu trình châm cứu để kích thích thuốc tác động nhanh hơn tới vùng điều trị .
I. Bài Thuốc Uống: Thuốc cơ sở chúng tôi sử dụng điều trị là thuốc nam chiết xuất hoàn toàn từ thảo dược tươi ở dạng nước. Thuốc được bảo quản trong ngăn mát tủ lạnh. Thuốc hoàn toàn không gây các phản ứng phụ vì được chiết xuất từ nam dược lành tính.
II. Bài Thuốc Đắp: Thuốc được bào chế ở dạng bột. Trộn 100g ngải cứu cùng 2 chén rượu (cỡ như chén uống trà). Xào nóng rồi trộn bột trên đun cho chín kỹ. Sau đó đổ ra khăn mỏng chườm nhanh vào vùng đau (tránh bỏng da). Khi còn ấm thì buộc lại chỗ đau đến khi hết hơi ấm thì tháo ra. Ngày dùng 2 lần: Sau khi dùng buổi sáng thì giữ hỗn hợp lại để buổi tối dùng tiếp.
Liệu trình châm cứu: Tùy từng trường hợp bệnh nhân được chỉ định châm cứu để kích thích tăng cường tác dụng của thuốc tới vùng điều trị.
Công  dụng chính của bài thuốc gia truyền:
- Kháng viêm, đào thải độc tố viêm nhiễm do quá trính thoái hóa, thoát vị gây nên
- Tán thấp, hành thủy, hoạt huyết tăng cường lưu thông máu.
- Bồi bổ dinh dưỡng cho hệ thống cột sống bị thoái hóa giúp phục hồi lại hệ thống cột sống.
- Giảm áp đĩa đệm, loại trừ dịch đệm chèn ép hệ thống rễ thần kinh giúp chữa thoát vị đĩa đệm hiệu quả
- Bồi bổ dinh dưỡng, giúp hồi phục cho hệ thống thần kinh bị tổn thương
Thuốc hoàn toàn không gây các phản ứng phụ vì được bào chế từ nam dược lành tính. Để đạt hiệu quả của điều trị bệnh nhân phải dùng tối thiểu là 9 thang dùng trong 9 ngày. Tất cả các bệnh nhân khi đến với gia đình chúng tôi hầu như đều đạt hiệu quả tốt. Tuy nhiên không phải 100% bệnh nhân đều khỏi hẳn, có những bệnh nhân đỡ được 70-80% họ đều coi đó là kết quả mong đợi, bởi vì họ đã từng điều trị ở những bệnh viện hàng đầu, sử dụng liệu pháp điều trị tích cực mà vẫn không đem lại kết quả. Những bệnh nhân sau khi sử dụng 1 liệu trình đầu tiên mà không có biểu hiện thuyên giảm thì chúng tôi cũng khuyên các bệnh nhân đó dừng sử dụng vì cơ địa không hợp với thuốc.
Qua kinh nghiệm và thực tế điều trị cho thấy thời gian điều trị dài hay ngắn phụ thuộc vào cơ địa của mỗi người. Có những bệnh nhân chỉ với một liều trình 9 ngày điều trị đã đạt hiệu quả, tuy nhiên cũng có những bệnh nhân phải sử dụng tới 2-3 liệu trình thậm chí 5-6 liệu trình mới đạt hiệu quả.
>> Xem thêm: viem da khop dang thap
>> Xem thêm: thoai hoa khop
(Nguồn: thoaihoacotsong.vn)

Những điều cần biết về thoát vị đĩa đệm

thoat vi dia dem là bệnh lý phổ biến trong cuộc sống hiện nay. Bệnh thoát vị đĩa đệm gây ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của người bệnh. Hiện nay, y học ngày càng phát triển và tạo ra rất nhiều phương pháp chữa bệnh khác nhau. Một trong những phương pháp ấy là chữa bệnh bằng thuốc nam. Nhiều người đã thoát khỏi bệnh thoát vị đĩa đệm nhờ bài thuốc nam được chiết xuất hoàn toàn từ thảo dược tươi và chắc chắn đó cũng là mong muốn của nhiều người bệnh khác.
1. Biểu hiện của bệnh thoát vị đĩa đệm
Bệnh thoát vị gây nên những cơn đau nhức thường xuyên và âm ỉ. Tùy theo từng vị trí bị thoát vị người ta có thể chia ra từng trường hợp khác nhau, về cơ bản bệnh thoát vị đĩa đệm được chia thành hai vùng:
- Bệnh thoát vị đĩa đệm cột sống cổ: Bệnh nhân thường có triệu chứng đau dọc vùng gáy, đau mỏi nhừ kéo sang bả vai và cánh tay. Có những bệnh nhân có cảm giác tê bì dọc cánh tay, thậm chí kéo tới làm tê bì mất cảm giác của bàn tay, đốt ngón tay. Có người bệnh còn có triệu chứng đau bốc lên đỉnh đầu, thậm chí hoa mắt, chóng mặt, đau tức hốc mắt.
- Bệnh thoát vị đĩa đệm thắt lưng: Bệnh nhân có biểu hiện đau vùng ngang thắt lưng, đau liên sườn. Ngoài ra bệnh nhân còn có biểu hiện đau dọc vùng mông kéo xuống chân, có thể gây tê bì chân hoặc có nhưng cơn đau rút chân khi cúi, ngửa.. Có người bệnh khi ngồi lâu, thường bị những cơn đau lưng dữ dội, phải nằm nghiêng bất động.
2. Nguyên nhân gây nên bệnh thoát vị đĩa đệm
Ảnh minh họa: Thoát vị đĩa đệm
Đĩa đệm được cấu tạo như đĩa hình tròn nằm giữa những đốt xương. Phần bao bọc bên ngoài của đĩa đệm được gọi là bao xơ đĩa đệm, phần nằm bên trong được gọi là nhân nhầy đĩa đệm (dạng gel). Trong cuộc sống thường thấy 3 nguyên nhân chính gây nên bệnh thoát vị đĩa đệm:
1. Bệnh do yếu tố di truyền: Nếu bố mẹ có cấu trúc đĩa đệm yếu thì con cũng rất dễ bị mắc bệnh.
2. Bệnh do quá trình hoạt động, lao động bị sai tư thế nghiêm trọng hoặc do chấn thương cột sống đột ngột
3. Bệnh gây nên do quá trình thoái hóa (Đây là trường hợp thoát vị phổ biến nhất):
Quá trình thoái hóa cột sống tác động tới bao xơ đĩa đệm làm vòng bao xơ trở nên xơ cứng, mất đi tính dẻo dai. Khi đó người bệnh không nhất thiết phải mang vác các vật nặng sai tư thế nhưng vẫn mắc bệnh. Bởi lẽ, bao xơ đĩa đệm bị xơ cứng bây giờ chỉ chịu được một áp lực giới hạn rất nhỏ. Khi rách bao xơ làm cho nhân nhầy thoát ra chèn ép vào rễ thần kinh gây nên bệnh thoát vị.
3. Hậu quả của bệnh thoát vị đĩa đệm:
Sau khi bệnh thoát vị diễn ra, nó sẽ gây nên các hậu quả ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống của người bệnh. Khả năng lao động và vận động trong sinh hoạt của bệnh nhân bị giảm sút nghiêm trọng. Ngoài những cơn đau đớn thường ngày, nếu không được chữa trị kịp thời bệnh nhân có thể bị teo cơ, teo các chi thậm chí còn có thể bị tàn phế suốt đời nếu thoát vị chèn ép vào tủy cổ.
4. Chữa khỏi bệnh thoát vị đĩa đệm:
Trong nền y học hiện nay, phương pháp điều trị thường được quan tâm nhất là phẫu thuật, tuy nhiên để phẫu thuật đĩa đệm là một vấn đề không đơn giản, bởi lẽ liền kề với đĩa đệm là hệ thống tổ chức dây thần kinh rất phức tạp, bất cứ sai sót nào trong quá trình phẫu thuật có thể dẫn đến biến chứng mà bệnh tình không hề suy giảm.
Bài thuốc gia truyền điều trị gồm 2 loại thuốc chính là: Bài Thuốc Uống và Bài Thuốc Đắp. Khi bệnh nhân đến thăm khám trực tiếp tại nhà thuốc, đội ngũ lương y sẽ thăm khám để biết ngoài tổn thương hệ thống cột sống thì bệnh nhân có bị tổn thương vùng cơ hay không. Tùy từng trường hợp, bệnh nhân được chỉ định áp dụng thêm liệu trình châm cứu để kích thích thuốc tác động nhanh hơn tới vùng điều trị .
I. Bài Thuốc Uống: Thuốc cơ sở chúng tôi sử dụng điều trị là thuốc nam chiết xuất hoàn toàn từ thảo dược tươi ở dạng nước. Thuốc được bảo quản trong ngăn mát tủ lạnh. Thuốc hoàn toàn không gây các phản ứng phụ vì được chiết xuất từ nam dược lành tính.
II. Bài Thuốc Đắp: Thuốc được bào chế ở dạng bột. Trộn 100g ngải cứu cùng 2 chén rượu (cỡ như chén uống trà). Xào nóng rồi trộn bột trên đun cho chín kỹ. Sau đó đổ ra khăn mỏng chườm nhanh vào vùng đau (tránh bỏng da). Khi còn ấm thì buộc lại chỗ đau đến khi hết hơi ấm thì tháo ra. Ngày dùng 2 lần: Sau khi dùng buổi sáng thì giữ hỗn hợp lại để buổi tối dùng tiếp.
Liệu trình châm cứu: Tùy từng trường hợp bệnh nhân được chỉ định châm cứu để kích thích tăng cường tác dụng của thuốc tới vùng điều trị.
Công  dụng chính của bài thuốc gia truyền:
- Kháng viêm, đào thải độc tố viêm nhiễm do quá trính thoái hóa, thoát vị gây nên
- Tán thấp, hành thủy, hoạt huyết tăng cường lưu thông máu.
- Bồi bổ dinh dưỡng cho hệ thống cột sống bị thoái hóa giúp phục hồi lại hệ thống cột sống.
- Giảm áp đĩa đệm, loại trừ dịch đệm chèn ép hệ thống rễ thần kinh giúp chữa thoát vị đĩa đệm hiệu quả
- Bồi bổ dinh dưỡng, giúp hồi phục cho hệ thống thần kinh bị tổn thương
Thuốc hoàn toàn không gây các phản ứng phụ vì được bào chế từ nam dược lành tính. Để đạt hiệu quả của điều trị bệnh nhân phải dùng tối thiểu là 9 thang dùng trong 9 ngày. Tất cả các bệnh nhân khi đến với gia đình chúng tôi hầu như đều đạt hiệu quả tốt. Tuy nhiên không phải 100% bệnh nhân đều khỏi hẳn, có những bệnh nhân đỡ được 70-80% họ đều coi đó là kết quả mong đợi, bởi vì họ đã từng điều trị ở những bệnh viện hàng đầu, sử dụng liệu pháp điều trị tích cực mà vẫn không đem lại kết quả. Những bệnh nhân sau khi sử dụng 1 liệu trình đầu tiên mà không có biểu hiện thuyên giảm thì chúng tôi cũng khuyên các bệnh nhân đó dừng sử dụng vì cơ địa không hợp với thuốc.
Qua kinh nghiệm và thực tế điều trị cho thấy thời gian điều trị dài hay ngắn phụ thuộc vào cơ địa của mỗi người. Có những bệnh nhân chỉ với một liều trình 9 ngày điều trị đã đạt hiệu quả, tuy nhiên cũng có những bệnh nhân phải sử dụng tới 2-3 liệu trình thậm chí 5-6 liệu trình mới đạt hiệu quả.
>> Xem thêm: viem da khop dang thap
>> Xem thêm: thoai hoa khop
(Nguồn: thoaihoacotsong.vn)
Đọc thêm..
Hiện nay, bệnh thoái hóa khớp ngày càng trở nên phổ biến, đặc biệt ở những người già. Bệnh thoái hóa khớp làm ảnh hưởng đến các hoạt động sinh hoạt trong cuộc sống, cản trở sự vui chơi, vận động và làm việc. Vậy nguyên nhân của bệnh này là do đâu? Cách điều trị hiệu quả căn bệnh này như thế nào? Làm thế nào để phòng tránh bệnh này khi về già? Mời bạn đọc cùng theo dõi bài viết:
thoai hoa khop: Nguyên nhân và cách điều trị
TPO - Bệnh thoái hoá khớp (còn gọi là bệnh hư khớp) là một bệnh mạn tính, gây thoái hoá và biến dạng khớp do sự phá huỷ sụn khớp và hệ thống bao khớp - dây chằng, thường gặp ở các khớp chịu sức nặng của cơ thể.
Ảnh minh họa: Bệnh thoái hóa khớp
Các thể bệnh hư khớp
thoái hoá khớp có thể nguyên phát hoặc thứ phát.
thoái hoá khớp nguyên phát do lão hoá của mô khớp, hoặc do sụn khớp được tưới máu và nuôi dưỡng kém,… dẫn đến mất tính đàn hồi và khô cứng. Khi hoạt động, sụn chạm vào đầu xương, gây hoại tử ở nơi chịu áp lực mạnh nhất. Bệnh này chỉ gặp ở người trên 40 tuổi.
Ảnh minh họa: Thoái hóa khớp
Khác với thoái hoá khớp nguyên phát, thoái hoá khớp thứ phát thường do sự lão hoá sớm của sụn khớp, xuất hiện sau chấn thương làm tổn thương diện khớp, hoặc từ những chấn thương nhỏ nhưng tác động nhiều lần, khớp hoạt động quá tải; do di chứng của viêm khớp nhiễm khuẩn, viêm đa khớp dạng thấp…
Những người béo phì cũng thường mắc chứng hư khớp do quá nặng cân, các khớp luôn trong tình trạng bị sức ép lớn. Những thể thứ phát này thường trầm trọng hơn những thể nguyên phát. Ngoài ra, những yếu tố về thời tiết, khí hậu… cũng là điều kiện thuận lợi cho bệnh xuất hiện.
Thoái hoá khớp nguyên phát ở các khớp được xếp theo thứ tự “ưu tiên” như sau: Khớp liên đốt sống (trên dưới 50% các trường hợp), khớp gối (13%), khớp háng (8%), khớp liên đốt ngón tay (6%) và các khớp khác (20%).
Tổn thương ở khớp bắt đầu từ những hoại tử của sụn khớp, sau đó là sự phá huỷ hệ thống trượt ở những vùng tỳ đè của xương dưới dạng một dải xơ và đường viền xung quanh khớp, các gai xương ở ngoại vi khớp. Bao hoạt dịch dày lên, hình thành những đường vân, có thể sụn hoá. Sụn hoá của bao hoạt dịch rơi vào ổ khớp gây cản trở cho hoạt động của khớp. Các xơ co kéo gây nên tình trạng cứng khớp.
Bệnh thoái hoá khớp nguyên phát hay gặp ở người 40-50 tuổi, và ở phụ nữ sau khi mãn kinh, nhưng điều nguy hiểm là thoái hoá khớp hầu như không có triệu chứng. Các dấu hiệu chỉ xuất hiện khi xương và hệ thống bao khớp hoạt dịch bị tổn thương thực sự. Bệnh thường khởi đầu âm ỉ, tiến triển chậm với những giai đoạn được cải thiện theo cảm nhận chủ quan. Thể điển hình, người bệnh đau khớp vào buổi sáng, sau khi ngủ dậy; đau giảm sau khi khớp được hoạt động và hết đau khi nghỉ ngơi. Khớp không sưng và không có các dấu hiệu toàn thân.
Khi khám, phát hiện các dấu hiệu: Hạn chế cử động, các cơ chi phối hoạt động của khớp bị teo và co cứng tăng trương lực; có tiếng lục cục trong khớp khi cử động; có thể sờ thấy đường viền khớp và gai xương. Xét nghiệm cho thấy: Hoạt dịch trong, quánh, chứa dưới 3.000 bạch cầu/1mm3; và dưới 25% là bạch cầu đa nhân trung tính; tốc độ máu lắng bình thường; chụp Xquang không có sự tương xứng giữa triệu chứng chủ quan và những tổn thương trên phim.
Tuỳ theo giai đoạn có thể thấy hình ảnh hẹp khe khớp với sự phá huỷ một phần hay hoàn toàn sụn khớp, ăn mòn diện khớp ở vùng tỳ đè.
Các dấu hiệu của loãng xương cũng có thể được phát hiện nếu sử dụng những phương pháp đặc biệt để phát hiện sớm các tổn thương của khớp, như: chụp cắt lớp, cộng hưởng từ, soi ổ khớp…
Chẩn đoán thoái hoá khớp dựa vào những yếu tố, như: Đau khớp tăng khi hoạt động và giảm khi nghỉ ngơi; không có triệu chứng toàn thân như sốt…; những dấu hiệu viêm tại chỗ rất ít hoặc không có; dịch ổ khớp không có biểu hiện viêm, không có mủ; chụp Xquang thấy hẹp khớp, ăn mòn diện khớp…
Cần lưu ý phân biệt thoái hóa khớp với viêm đa khớp dạng thấp: Viêm khớp tại chỗ rất rõ (sưng, nóng đỏ, đau), dịch ở khớp biểu hiện viêm; tốc độ lắng máu tăng…
Điều trị?
Nhìn chung tổn thương ổ khớp do hư khớp là không thể thay đổi nhưng tiến triển chậm. Ở những khớp chưa cứng hoàn toàn, việc điều trị có thể giảm được nhưng cản trở chức năng.
thoái hoá khớp có thể điều trị bằng hai phương pháp:
- Điều trị nội khoa: Ở giai đoạn đau khớp, người bệnh cần phải nghỉ ngơi, tránh tất cả những hoạt động gây đau. Dùng vật lý trị liệu để làm tăng tưới máu tại chỗ cho khớp.
Trong giai đoạn đau khớp cấp, bất động khớp, thậm chí bó bột là điều rất cần thiết (chỉ nên bất động trong thời gian ngắn để tránh cứng khớp). Ngay sau khi hết đau cấp, phải tập vận động khớp nhẹ nhàng, phù hợp.
Để dự phòng những tư thế xấu (khớp gối vẹo vào trong hoặc quay ra ngoài), hoặc để giảm đau, có thể sử dụng các loại: Băng, nịt, nẹp, khung đỡ,… hay đơn giản như là một chiếc gậy, một chiếc nạng nếu bị hư khớp chi dưới. Sử dụng thuốc, những thuốc cơ bản là thuốc chống viêm giảm đau, như aspirin và thuốc không có steroid (ibuprofen, diclofenac, indometacin…). Những thuốc an thần, đặc biệt nhóm diazepam có thể sử dụng trong trường hợp đau do co cơ, hoặc người bệnh quá lo lắng, nhưng không được dùng dài ngày vì dễ gây nghiện.
- Điều trị ngoại khoa: Có ba loại phẫu thuật được áp dụng: Đó là, phẫu thuật dự phòng nhằm lập lại tình trạng bình thường các khớp có nguy cơ bị thoái hoá như trật khớp háng bẩm sinh, tiêu chỏm xương, nhuyễn sụn xương bánh chè, lệch trục đầu gối…; Phẫu thuật bảo tồn khi khớp chưa bị hư hỏng nặng, có thể sửa chữa đưa về điều kiện cơ học của chức năng bình thường; Và phẫu thuật thay thế trong trường hợp khớp quá hư hỏng, không thể phục hồi được, có thể thay thế từng phần, thậm chí toàn bộ khớp bằng khớp nhân tạo.
>> Xem thêm: thoat vi dia dem
>> Xem thêm: viem da khop dang thap
(Theo nguồn: khoe360.tienphong.vn)

Nguyên nhân và cách điều trị bệnh thoái hóa khớp

Hiện nay, bệnh thoái hóa khớp ngày càng trở nên phổ biến, đặc biệt ở những người già. Bệnh thoái hóa khớp làm ảnh hưởng đến các hoạt động sinh hoạt trong cuộc sống, cản trở sự vui chơi, vận động và làm việc. Vậy nguyên nhân của bệnh này là do đâu? Cách điều trị hiệu quả căn bệnh này như thế nào? Làm thế nào để phòng tránh bệnh này khi về già? Mời bạn đọc cùng theo dõi bài viết:
thoai hoa khop: Nguyên nhân và cách điều trị
TPO - Bệnh thoái hoá khớp (còn gọi là bệnh hư khớp) là một bệnh mạn tính, gây thoái hoá và biến dạng khớp do sự phá huỷ sụn khớp và hệ thống bao khớp - dây chằng, thường gặp ở các khớp chịu sức nặng của cơ thể.
Ảnh minh họa: Bệnh thoái hóa khớp
Các thể bệnh hư khớp
thoái hoá khớp có thể nguyên phát hoặc thứ phát.
thoái hoá khớp nguyên phát do lão hoá của mô khớp, hoặc do sụn khớp được tưới máu và nuôi dưỡng kém,… dẫn đến mất tính đàn hồi và khô cứng. Khi hoạt động, sụn chạm vào đầu xương, gây hoại tử ở nơi chịu áp lực mạnh nhất. Bệnh này chỉ gặp ở người trên 40 tuổi.
Ảnh minh họa: Thoái hóa khớp
Khác với thoái hoá khớp nguyên phát, thoái hoá khớp thứ phát thường do sự lão hoá sớm của sụn khớp, xuất hiện sau chấn thương làm tổn thương diện khớp, hoặc từ những chấn thương nhỏ nhưng tác động nhiều lần, khớp hoạt động quá tải; do di chứng của viêm khớp nhiễm khuẩn, viêm đa khớp dạng thấp…
Những người béo phì cũng thường mắc chứng hư khớp do quá nặng cân, các khớp luôn trong tình trạng bị sức ép lớn. Những thể thứ phát này thường trầm trọng hơn những thể nguyên phát. Ngoài ra, những yếu tố về thời tiết, khí hậu… cũng là điều kiện thuận lợi cho bệnh xuất hiện.
Thoái hoá khớp nguyên phát ở các khớp được xếp theo thứ tự “ưu tiên” như sau: Khớp liên đốt sống (trên dưới 50% các trường hợp), khớp gối (13%), khớp háng (8%), khớp liên đốt ngón tay (6%) và các khớp khác (20%).
Tổn thương ở khớp bắt đầu từ những hoại tử của sụn khớp, sau đó là sự phá huỷ hệ thống trượt ở những vùng tỳ đè của xương dưới dạng một dải xơ và đường viền xung quanh khớp, các gai xương ở ngoại vi khớp. Bao hoạt dịch dày lên, hình thành những đường vân, có thể sụn hoá. Sụn hoá của bao hoạt dịch rơi vào ổ khớp gây cản trở cho hoạt động của khớp. Các xơ co kéo gây nên tình trạng cứng khớp.
Bệnh thoái hoá khớp nguyên phát hay gặp ở người 40-50 tuổi, và ở phụ nữ sau khi mãn kinh, nhưng điều nguy hiểm là thoái hoá khớp hầu như không có triệu chứng. Các dấu hiệu chỉ xuất hiện khi xương và hệ thống bao khớp hoạt dịch bị tổn thương thực sự. Bệnh thường khởi đầu âm ỉ, tiến triển chậm với những giai đoạn được cải thiện theo cảm nhận chủ quan. Thể điển hình, người bệnh đau khớp vào buổi sáng, sau khi ngủ dậy; đau giảm sau khi khớp được hoạt động và hết đau khi nghỉ ngơi. Khớp không sưng và không có các dấu hiệu toàn thân.
Khi khám, phát hiện các dấu hiệu: Hạn chế cử động, các cơ chi phối hoạt động của khớp bị teo và co cứng tăng trương lực; có tiếng lục cục trong khớp khi cử động; có thể sờ thấy đường viền khớp và gai xương. Xét nghiệm cho thấy: Hoạt dịch trong, quánh, chứa dưới 3.000 bạch cầu/1mm3; và dưới 25% là bạch cầu đa nhân trung tính; tốc độ máu lắng bình thường; chụp Xquang không có sự tương xứng giữa triệu chứng chủ quan và những tổn thương trên phim.
Tuỳ theo giai đoạn có thể thấy hình ảnh hẹp khe khớp với sự phá huỷ một phần hay hoàn toàn sụn khớp, ăn mòn diện khớp ở vùng tỳ đè.
Các dấu hiệu của loãng xương cũng có thể được phát hiện nếu sử dụng những phương pháp đặc biệt để phát hiện sớm các tổn thương của khớp, như: chụp cắt lớp, cộng hưởng từ, soi ổ khớp…
Chẩn đoán thoái hoá khớp dựa vào những yếu tố, như: Đau khớp tăng khi hoạt động và giảm khi nghỉ ngơi; không có triệu chứng toàn thân như sốt…; những dấu hiệu viêm tại chỗ rất ít hoặc không có; dịch ổ khớp không có biểu hiện viêm, không có mủ; chụp Xquang thấy hẹp khớp, ăn mòn diện khớp…
Cần lưu ý phân biệt thoái hóa khớp với viêm đa khớp dạng thấp: Viêm khớp tại chỗ rất rõ (sưng, nóng đỏ, đau), dịch ở khớp biểu hiện viêm; tốc độ lắng máu tăng…
Điều trị?
Nhìn chung tổn thương ổ khớp do hư khớp là không thể thay đổi nhưng tiến triển chậm. Ở những khớp chưa cứng hoàn toàn, việc điều trị có thể giảm được nhưng cản trở chức năng.
thoái hoá khớp có thể điều trị bằng hai phương pháp:
- Điều trị nội khoa: Ở giai đoạn đau khớp, người bệnh cần phải nghỉ ngơi, tránh tất cả những hoạt động gây đau. Dùng vật lý trị liệu để làm tăng tưới máu tại chỗ cho khớp.
Trong giai đoạn đau khớp cấp, bất động khớp, thậm chí bó bột là điều rất cần thiết (chỉ nên bất động trong thời gian ngắn để tránh cứng khớp). Ngay sau khi hết đau cấp, phải tập vận động khớp nhẹ nhàng, phù hợp.
Để dự phòng những tư thế xấu (khớp gối vẹo vào trong hoặc quay ra ngoài), hoặc để giảm đau, có thể sử dụng các loại: Băng, nịt, nẹp, khung đỡ,… hay đơn giản như là một chiếc gậy, một chiếc nạng nếu bị hư khớp chi dưới. Sử dụng thuốc, những thuốc cơ bản là thuốc chống viêm giảm đau, như aspirin và thuốc không có steroid (ibuprofen, diclofenac, indometacin…). Những thuốc an thần, đặc biệt nhóm diazepam có thể sử dụng trong trường hợp đau do co cơ, hoặc người bệnh quá lo lắng, nhưng không được dùng dài ngày vì dễ gây nghiện.
- Điều trị ngoại khoa: Có ba loại phẫu thuật được áp dụng: Đó là, phẫu thuật dự phòng nhằm lập lại tình trạng bình thường các khớp có nguy cơ bị thoái hoá như trật khớp háng bẩm sinh, tiêu chỏm xương, nhuyễn sụn xương bánh chè, lệch trục đầu gối…; Phẫu thuật bảo tồn khi khớp chưa bị hư hỏng nặng, có thể sửa chữa đưa về điều kiện cơ học của chức năng bình thường; Và phẫu thuật thay thế trong trường hợp khớp quá hư hỏng, không thể phục hồi được, có thể thay thế từng phần, thậm chí toàn bộ khớp bằng khớp nhân tạo.
>> Xem thêm: thoat vi dia dem
>> Xem thêm: viem da khop dang thap
(Theo nguồn: khoe360.tienphong.vn)

Đọc thêm..
Ảnh minh họa
Khá nhiều người mắc các bệnh xương khớp truyền nhau là phải kiêng này kiêng trong vấn đề ăn uống. Nhưng việc áp dụng chế độ ăn kiêng thái quá và không đúng sẽ chỉ dẫn đến sự thiếu hụt dinh dưỡng, suy giảm sức khỏe. Trong khi chế độ ăn hợp lý lại giúp tăng cường sức mạnh cơ bắp và độ rắn chắc của xương, hỗ trợ tốt hơn cho các khớp, nhất là khi thời tiết thay đổi.

Bệnh viem khop dang thap rất khó chữa khỏi. Trong đa số trường hợp, thuốc men chỉ tạm thời đẩy lui bệnh. Nhiều người vẫn truyền nhau các phương pháp như nhịn đói trị bệnh, loại bỏ những thức ăn gây đau đớn, chọn ăn những thực phẩm đặc biệt... Tuy nhiên, cho đến nay, khoa học vẫn chưa chứng minh được hiệu quả của những biện pháp này.

Bác sĩ Nguyễn Thị Kim Hưng, Giám đốc Trung tâm dinh dưỡng TP HCM cho biết, viêm khớp dạng thấp thường đi kèm các đợt viêm (bệnh nhân bị sốt, khớp bị sưng đau). Điều này làm tiêu hao năng lượng và gây chán ăn, khiến người bệnh dễ bị thiếu dinh dưỡng. Họ cần ăn uống nhiều hơn để tích lũy các chất dinh dưỡng

Theo bác sĩ Hưng, người bệnh viêm khớp dạng thấp thường thấy mệt mỏi, cứng các khớp xương vào buổi sáng. Vì vậy, họ cần ăn điểm tâm đầy đủ để tăng thêm sức lực. Ngoài 3 bữa chính, nên ăn thêm 2-3 bữa phụ với thực phẩm giàu năng lượng. Thức ăn càng đa dạng càng tốt. Hàm lượng khuyến cáo với từng thành phần dinh dưỡng là:
  • Rau trái: Nên dùng trên 300 g rau và 200 g hoa quả mỗi ngày. Chất xơ trong rau trái giúp giảm cholesterol máu, tránh táo bón (vốn là tình trạng thường gặp ở người bệnh khớp).
  • Chất đạm: Dùng 50 g thịt, 100 g đậu đỗ mỗi ngày. Có thể ăn 3-4 quả trứng/tuần (người có cholesterol máu cao cần giảm xuống 1-2 quả /tuần). Các loại thực phẩm giàu chất đạm như thịt cá, trứng, sữa, ngêu sò, tào phớ và đậu các loại... đều có lợi cho sức khỏe. Chú ý chỉ ăn thịt nạc bỏ da, không ăn phủ tạng. Nên thay bớt đạm động vật bằng đạm thực vật. Cần tăng cường uống sữa vì đây là nguồn cung cấp canxi quan trọng, rất tốt cho người bệnh khớp.
  • Chất béo: Không nên dùng quá 20 g dầu thực vật mỗi ngày. Nên sử dụng dầu lạc, dầu vừng...
  • Tinh bột: Ăn đầy đủ các thức ăn giàu chất bột như cơm, mì, khoai củ để không bị thiếu dinh dưỡng.
  • Muối, đường: Không nên ăn thực phẩm quá mặn hoặc quá nhạt. Cần hạn chế lượng muối ở mức không quá 10 g/ngày và đường ở mức 20 g/ngày.
Chính vì vậy đối với những người bị viêm đa khớp dạng thấp hãy ăn uống một cách khoa học để đảm bảo đầy đủ dinh dưỡng cho cơ thể mình.

(Theo vietbao.vn)

Khi bị viêm đa khớp dạng thấp không nên kiêng khem

Ảnh minh họa
Khá nhiều người mắc các bệnh xương khớp truyền nhau là phải kiêng này kiêng trong vấn đề ăn uống. Nhưng việc áp dụng chế độ ăn kiêng thái quá và không đúng sẽ chỉ dẫn đến sự thiếu hụt dinh dưỡng, suy giảm sức khỏe. Trong khi chế độ ăn hợp lý lại giúp tăng cường sức mạnh cơ bắp và độ rắn chắc của xương, hỗ trợ tốt hơn cho các khớp, nhất là khi thời tiết thay đổi.

Bệnh viem khop dang thap rất khó chữa khỏi. Trong đa số trường hợp, thuốc men chỉ tạm thời đẩy lui bệnh. Nhiều người vẫn truyền nhau các phương pháp như nhịn đói trị bệnh, loại bỏ những thức ăn gây đau đớn, chọn ăn những thực phẩm đặc biệt... Tuy nhiên, cho đến nay, khoa học vẫn chưa chứng minh được hiệu quả của những biện pháp này.

Bác sĩ Nguyễn Thị Kim Hưng, Giám đốc Trung tâm dinh dưỡng TP HCM cho biết, viêm khớp dạng thấp thường đi kèm các đợt viêm (bệnh nhân bị sốt, khớp bị sưng đau). Điều này làm tiêu hao năng lượng và gây chán ăn, khiến người bệnh dễ bị thiếu dinh dưỡng. Họ cần ăn uống nhiều hơn để tích lũy các chất dinh dưỡng

Theo bác sĩ Hưng, người bệnh viêm khớp dạng thấp thường thấy mệt mỏi, cứng các khớp xương vào buổi sáng. Vì vậy, họ cần ăn điểm tâm đầy đủ để tăng thêm sức lực. Ngoài 3 bữa chính, nên ăn thêm 2-3 bữa phụ với thực phẩm giàu năng lượng. Thức ăn càng đa dạng càng tốt. Hàm lượng khuyến cáo với từng thành phần dinh dưỡng là:
  • Rau trái: Nên dùng trên 300 g rau và 200 g hoa quả mỗi ngày. Chất xơ trong rau trái giúp giảm cholesterol máu, tránh táo bón (vốn là tình trạng thường gặp ở người bệnh khớp).
  • Chất đạm: Dùng 50 g thịt, 100 g đậu đỗ mỗi ngày. Có thể ăn 3-4 quả trứng/tuần (người có cholesterol máu cao cần giảm xuống 1-2 quả /tuần). Các loại thực phẩm giàu chất đạm như thịt cá, trứng, sữa, ngêu sò, tào phớ và đậu các loại... đều có lợi cho sức khỏe. Chú ý chỉ ăn thịt nạc bỏ da, không ăn phủ tạng. Nên thay bớt đạm động vật bằng đạm thực vật. Cần tăng cường uống sữa vì đây là nguồn cung cấp canxi quan trọng, rất tốt cho người bệnh khớp.
  • Chất béo: Không nên dùng quá 20 g dầu thực vật mỗi ngày. Nên sử dụng dầu lạc, dầu vừng...
  • Tinh bột: Ăn đầy đủ các thức ăn giàu chất bột như cơm, mì, khoai củ để không bị thiếu dinh dưỡng.
  • Muối, đường: Không nên ăn thực phẩm quá mặn hoặc quá nhạt. Cần hạn chế lượng muối ở mức không quá 10 g/ngày và đường ở mức 20 g/ngày.
Chính vì vậy đối với những người bị viêm đa khớp dạng thấp hãy ăn uống một cách khoa học để đảm bảo đầy đủ dinh dưỡng cho cơ thể mình.

(Theo vietbao.vn)
Đọc thêm..
Là một trong những bệnh nhân mắc phải căn bệnh viêm khớp dạng thấp (còn gọi là viem đa khop dang thap), chị Phạm Thị Lành (ở xóm Vĩnh Đồng - Trung Mỹ - Bình Xuyên - Vĩnh Phúc) hầu như không làm được việc gì ngoài đi khắp nơi tìm thầy, tìm thuốc, tốn kém tiền của. Ngay cả những sinh hoạt cá nhân, nhiều lúc chị cũng phải nhờ người nhà làm giúp.
Ảnh minh họa
Chị Lành cho biết, thực ra cảm giác đau khớp đã xuất hiện từ hồi chị còn trẻ, khi chưa lấy chồng, nhưng khoảng năm 2005 - 2006 thì trở nên đau dữ dội. Ban đầu là đau lưng, rồi đau sưng 2 khớp cổ tay, khớp ngón tay, khớp bàn ngón chân: “Tôi không thể buộc tóc hay quét nhà, chân đi tập tễnh, nhiều lúc không tự đi lại được mà phải có người dìu. Đau nhất là về mùa đông, càng lạnh thì càng đau” – chị kể.

Đi khám, chị được chẩn đoán là viêm đa khớp dạng thấp. Chị uống nhiều loại thuốc khác nhau, nghe thấy ở đâu có thể chữa được viêm khớp dạng thấp, chị đều tìm đến điều trị nhưng bệnh vẫn không đỡ. Mặt khác, do dùng nhiều loại thuốc khiến chị bị đau dạ dày và rong kinh khiến người mệt mỏi, khó chịu. Có lúc đau quá, chị phải tiêm thuốc trực tiếp vào khớp đau, dù biết như thế rất hại (có thể gây loãng xương, suy thận), nhưng không tiêm thì chị không thể đi lại hay cử động. Chị thấy vô cùng mệt mỏi.

Sau đó, chị đến điều trị ở một phòng khám tại Hà Nội với hy vọng khỏi bệnh, nhưng  chi phí lại lớn nên chị không theo được. 7 năm chữa trị mệt mỏi, nhiều lúc chị chán nản nghĩ rằng bệnh mình không thể khỏi được. Tuy nhiên, một lần chị thấy tư vấn sản phẩm hỗ trợ điều trị viêm khớp dạng thấp là thực phẩm chức năng Hoàng Thấp Linh. Chị mua vài hộp uống thử mà không mong đợi nhiều về hiệu quả:

“Không ngờ, tôi đã đỡ đau khớp và không đau bụng nữa. Thấy vậy, tôi duy trì uống 4 viên/ngày, chia làm 2 lần trước bữa ăn 30 phút. Tôi có cảm giác như mình dễ chịu hơn, các khớp giảm đau nhức, không thấy có tác dụng phụ. Uống hết 1 đợt 4 tháng, tôi gọi theo số điện thoại trên vỏ sản phẩm, nhờ tư vấn xem dùng Hoàng Thấp Linh lâu dài có được không thì được trả lời là nên uống một đợt, rồi nghỉ vài tháng lại uống tiếp”.

Đến nay, chị Lành đã uống Hoàng Thấp Linh gần 5 tháng, bệnh đỡ đến 70-80%: “Tôi thấy người dễ chịu, thoải mái, khoan khoái, chồng con không phải chăm sóc nhiều như trước. Tôi đã có thể đi lấy hàng về bán để kiếm thêm thu nhập, dọn dẹp nhà cửa, cơm nước cho chồng con, làm được những việc đồng áng nhẹ...” - chị cho biết.

Theo chị Lành, do rất sợ đau như trước, đồng thời bác sĩ cũng cho biết bệnh viêm khớp dạng thấp chưa thể chữa khỏi hoàn toàn mà chỉ điều trị để giảm đau, giảm sưng, phục hồi vận động nên chị sẽ kiên trì dùng Hoàng Thấp Linh, bởi từ trước đến nay, chưa có loại sản phẩm hỗ trợ nào hợp với chị như sản phẩm này.

Đọc thêm : thoai hoa khop
Đọc thêm : thoat vi dia dem
(Sưu tầm)

Người phụ nữ 7 năm... chữa viêm đa khớp dạng thấp

Là một trong những bệnh nhân mắc phải căn bệnh viêm khớp dạng thấp (còn gọi là viem đa khop dang thap), chị Phạm Thị Lành (ở xóm Vĩnh Đồng - Trung Mỹ - Bình Xuyên - Vĩnh Phúc) hầu như không làm được việc gì ngoài đi khắp nơi tìm thầy, tìm thuốc, tốn kém tiền của. Ngay cả những sinh hoạt cá nhân, nhiều lúc chị cũng phải nhờ người nhà làm giúp.
Ảnh minh họa
Chị Lành cho biết, thực ra cảm giác đau khớp đã xuất hiện từ hồi chị còn trẻ, khi chưa lấy chồng, nhưng khoảng năm 2005 - 2006 thì trở nên đau dữ dội. Ban đầu là đau lưng, rồi đau sưng 2 khớp cổ tay, khớp ngón tay, khớp bàn ngón chân: “Tôi không thể buộc tóc hay quét nhà, chân đi tập tễnh, nhiều lúc không tự đi lại được mà phải có người dìu. Đau nhất là về mùa đông, càng lạnh thì càng đau” – chị kể.

Đi khám, chị được chẩn đoán là viêm đa khớp dạng thấp. Chị uống nhiều loại thuốc khác nhau, nghe thấy ở đâu có thể chữa được viêm khớp dạng thấp, chị đều tìm đến điều trị nhưng bệnh vẫn không đỡ. Mặt khác, do dùng nhiều loại thuốc khiến chị bị đau dạ dày và rong kinh khiến người mệt mỏi, khó chịu. Có lúc đau quá, chị phải tiêm thuốc trực tiếp vào khớp đau, dù biết như thế rất hại (có thể gây loãng xương, suy thận), nhưng không tiêm thì chị không thể đi lại hay cử động. Chị thấy vô cùng mệt mỏi.

Sau đó, chị đến điều trị ở một phòng khám tại Hà Nội với hy vọng khỏi bệnh, nhưng  chi phí lại lớn nên chị không theo được. 7 năm chữa trị mệt mỏi, nhiều lúc chị chán nản nghĩ rằng bệnh mình không thể khỏi được. Tuy nhiên, một lần chị thấy tư vấn sản phẩm hỗ trợ điều trị viêm khớp dạng thấp là thực phẩm chức năng Hoàng Thấp Linh. Chị mua vài hộp uống thử mà không mong đợi nhiều về hiệu quả:

“Không ngờ, tôi đã đỡ đau khớp và không đau bụng nữa. Thấy vậy, tôi duy trì uống 4 viên/ngày, chia làm 2 lần trước bữa ăn 30 phút. Tôi có cảm giác như mình dễ chịu hơn, các khớp giảm đau nhức, không thấy có tác dụng phụ. Uống hết 1 đợt 4 tháng, tôi gọi theo số điện thoại trên vỏ sản phẩm, nhờ tư vấn xem dùng Hoàng Thấp Linh lâu dài có được không thì được trả lời là nên uống một đợt, rồi nghỉ vài tháng lại uống tiếp”.

Đến nay, chị Lành đã uống Hoàng Thấp Linh gần 5 tháng, bệnh đỡ đến 70-80%: “Tôi thấy người dễ chịu, thoải mái, khoan khoái, chồng con không phải chăm sóc nhiều như trước. Tôi đã có thể đi lấy hàng về bán để kiếm thêm thu nhập, dọn dẹp nhà cửa, cơm nước cho chồng con, làm được những việc đồng áng nhẹ...” - chị cho biết.

Theo chị Lành, do rất sợ đau như trước, đồng thời bác sĩ cũng cho biết bệnh viêm khớp dạng thấp chưa thể chữa khỏi hoàn toàn mà chỉ điều trị để giảm đau, giảm sưng, phục hồi vận động nên chị sẽ kiên trì dùng Hoàng Thấp Linh, bởi từ trước đến nay, chưa có loại sản phẩm hỗ trợ nào hợp với chị như sản phẩm này.

Đọc thêm : thoai hoa khop
Đọc thêm : thoat vi dia dem
(Sưu tầm)
Đọc thêm..
Hàng năm, ở nước ta có khoảng 700-750 người mới mắc viem da khop dang thap trên một triệu dân từ 15 tuổi trở lên, trong đó, khoảng 80% ở độ tuổi trung niên. Vậy làm thế nào để phòng ngừa, giảm thiểu sự gia tăng không ngừng của căn bệnh này là câu hỏi đang cần lời giải đáp.
Cách phòng và điều trị bệnh viêm đa khớp dạng thấp
Ảnh minh họa : Cách phòng và điều trị bệnh viêm đa khớp dạng thấp
viem da khop dang thap là tình trạng một hay nhiều khớp bị sưng đau lúc thời tiết thay đổi từ nóng sang lạnh hoặc ngược lại. Bệnh xuất hiện trên những người bị viêm họng cấp hoặc mãn do chủng vi khuẩn liên cầu tan huyết nhóm A gây nên. Lúc cấp tính, tại vùng khớp bị sưng, nóng đỏ, đau; nhưng khi đã thành mạn thì các dấu hiệu này không rõ ràng, chỉ thấy sưng, đau hoặc mỏi ở những khớp đa viêm nhiễm và di chuyển nhiều lần.
Triệu chứng bao gồm: cứng khớp buổi sáng, thức dậy không thể vận động được ngay mà phải xoay khớp, xoa bóp chừng 10-15 phút mới có thể xuống giường. Tiếp đến là đau khớp, nhất là các khớp nhỏ như: khớp bàn ngón tay, cổ tay, bàn ngón chân, cổ chân. Các khớp có đặc điểm là viêm đau, có thể sưng nhưng không đỏ lên. Bao giờ cũng có hiện tượng đau đối xứng hai bên. Cuối cùng, nếu bàn tay, bàn chân bị biến dạng sau một thời gian đau khớp thì có nghĩa là bệnh đã đến giai đoạn nặng, dần dẫn đến tình trạng dính, biến dạng khớp, thậm chí có thể gây tàn phế.
Nguyên nhân gây bệnh:
  • Tác nhân gây bệnh: có thể là virus, vi khuẩn, dị nguyên nhưng chưa được xác định chắc chắn.
  • Yếu tố cơ địa: bệnh có liên quan rõ rệt đến giới tính (70-80% bệnh nhân là nữ) và tuổi (60-70% gặp ở người trên 30 tuổi).
  • Yếu tố di truyền: VKDT có tính gia đình, có liên quan với tổ chức HLA DR4 (gặp 60-70% bệnh nhân có yếu tố này, trong khi tỷ lệ này ở cộng đồng chỉ là 30%).
  • Các yếu tố thuận lợi khác: môi trường sống ẩm thấp, cơ thể suy yếu mệt mỏi, nhiễm lạnh, phẫu thuật.  
Phòng ngừa và điều trị Viêm Đa Khớp Dạng Thấp
Chúng ta cần biết viêm đa khớp dạng thấp là bệnh không dễ chữa khỏi. Nó là một bệnh của hệ thống tự miễn. Hiểu đơn giản là cơ thể tự sinh ra những “chất” chống lại chính khớp và gây đau. Vì là bệnh tự miễn nên việc điều trị dứt điểm thường rất khó khăn. Điều trị thường là kéo dài từ 1-2 tháng đến vài năm và có khi là điều trị suốt đời. Vấn đề chủ yếu chỉ là làm giảm các đợt vượng bệnh và kiên trì tuân thủ điều trị.
Việc điều trị bệnh này phụ thuộc khớp bị tổn thương, mức độ bị bệnh, thời gian bệnh. Vì thế người bệnh không thể tự ý chữa trị. Hiện nay, xu hướng phòng ngừa, hỗ trợ điều trị viêm đa khớp dạng thấp đang được các bác sĩ và bệnh nhân tin tưởng sử dụng là dùng những sản phẩm có nguồn gốc thiên nhiên, không gây tác dụng phụ, tiêu biểu cho xu hướng này là Hyđan.
Từ khi xuất hiện trên thị trường, Hyđan đã được nhiều người tiêu dùng tin dùng và mang lại hiệu quả rõ rệt. Với giải thưởng sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam (VIFOTEC), Hyđan đã chứng minh được sự đảm bảo về mặt chất lượng. Ngoài việc chữa viêm đa khớp dạng thấp, Hyđan còn có tác dụng chữa đau nhức xương khớp, đau dây thần kinh liên sườn, đau lưng, đau vai gáy. Không những thế, thuốc không kích ứng dạ dày nên dùng được cho cả bệnh nhân loét dạ dày, tá tràng.

>> Xem thêm : thoat vi dia dem
>> Xem thêm : benh xuong khop

( Theo nguồn thephaco)

Cách phòng và điều trị bệnh viêm đa khớp dạng thấp

Hàng năm, ở nước ta có khoảng 700-750 người mới mắc viem da khop dang thap trên một triệu dân từ 15 tuổi trở lên, trong đó, khoảng 80% ở độ tuổi trung niên. Vậy làm thế nào để phòng ngừa, giảm thiểu sự gia tăng không ngừng của căn bệnh này là câu hỏi đang cần lời giải đáp.
Cách phòng và điều trị bệnh viêm đa khớp dạng thấp
Ảnh minh họa : Cách phòng và điều trị bệnh viêm đa khớp dạng thấp
viem da khop dang thap là tình trạng một hay nhiều khớp bị sưng đau lúc thời tiết thay đổi từ nóng sang lạnh hoặc ngược lại. Bệnh xuất hiện trên những người bị viêm họng cấp hoặc mãn do chủng vi khuẩn liên cầu tan huyết nhóm A gây nên. Lúc cấp tính, tại vùng khớp bị sưng, nóng đỏ, đau; nhưng khi đã thành mạn thì các dấu hiệu này không rõ ràng, chỉ thấy sưng, đau hoặc mỏi ở những khớp đa viêm nhiễm và di chuyển nhiều lần.
Triệu chứng bao gồm: cứng khớp buổi sáng, thức dậy không thể vận động được ngay mà phải xoay khớp, xoa bóp chừng 10-15 phút mới có thể xuống giường. Tiếp đến là đau khớp, nhất là các khớp nhỏ như: khớp bàn ngón tay, cổ tay, bàn ngón chân, cổ chân. Các khớp có đặc điểm là viêm đau, có thể sưng nhưng không đỏ lên. Bao giờ cũng có hiện tượng đau đối xứng hai bên. Cuối cùng, nếu bàn tay, bàn chân bị biến dạng sau một thời gian đau khớp thì có nghĩa là bệnh đã đến giai đoạn nặng, dần dẫn đến tình trạng dính, biến dạng khớp, thậm chí có thể gây tàn phế.
Nguyên nhân gây bệnh:
  • Tác nhân gây bệnh: có thể là virus, vi khuẩn, dị nguyên nhưng chưa được xác định chắc chắn.
  • Yếu tố cơ địa: bệnh có liên quan rõ rệt đến giới tính (70-80% bệnh nhân là nữ) và tuổi (60-70% gặp ở người trên 30 tuổi).
  • Yếu tố di truyền: VKDT có tính gia đình, có liên quan với tổ chức HLA DR4 (gặp 60-70% bệnh nhân có yếu tố này, trong khi tỷ lệ này ở cộng đồng chỉ là 30%).
  • Các yếu tố thuận lợi khác: môi trường sống ẩm thấp, cơ thể suy yếu mệt mỏi, nhiễm lạnh, phẫu thuật.  
Phòng ngừa và điều trị Viêm Đa Khớp Dạng Thấp
Chúng ta cần biết viêm đa khớp dạng thấp là bệnh không dễ chữa khỏi. Nó là một bệnh của hệ thống tự miễn. Hiểu đơn giản là cơ thể tự sinh ra những “chất” chống lại chính khớp và gây đau. Vì là bệnh tự miễn nên việc điều trị dứt điểm thường rất khó khăn. Điều trị thường là kéo dài từ 1-2 tháng đến vài năm và có khi là điều trị suốt đời. Vấn đề chủ yếu chỉ là làm giảm các đợt vượng bệnh và kiên trì tuân thủ điều trị.
Việc điều trị bệnh này phụ thuộc khớp bị tổn thương, mức độ bị bệnh, thời gian bệnh. Vì thế người bệnh không thể tự ý chữa trị. Hiện nay, xu hướng phòng ngừa, hỗ trợ điều trị viêm đa khớp dạng thấp đang được các bác sĩ và bệnh nhân tin tưởng sử dụng là dùng những sản phẩm có nguồn gốc thiên nhiên, không gây tác dụng phụ, tiêu biểu cho xu hướng này là Hyđan.
Từ khi xuất hiện trên thị trường, Hyđan đã được nhiều người tiêu dùng tin dùng và mang lại hiệu quả rõ rệt. Với giải thưởng sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam (VIFOTEC), Hyđan đã chứng minh được sự đảm bảo về mặt chất lượng. Ngoài việc chữa viêm đa khớp dạng thấp, Hyđan còn có tác dụng chữa đau nhức xương khớp, đau dây thần kinh liên sườn, đau lưng, đau vai gáy. Không những thế, thuốc không kích ứng dạ dày nên dùng được cho cả bệnh nhân loét dạ dày, tá tràng.

>> Xem thêm : thoat vi dia dem
>> Xem thêm : benh xuong khop

( Theo nguồn thephaco)
Đọc thêm..
Rắn hổ mang khắc tinh của bệnh xương khớp
Rắn hổ mang được coi là vị thuốc quý và có công dụng hữu hiệu bậc nhất cho các chua benh xuong khop bang dong y . Tuy nhiên, việc tiếp cận với bài thuốc này không dễ khi rắn tự nhiên đang có nguy cơ tận diệt.

Công dụng của Rắn hổ mang

 
Theo “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Giáo sư Đỗ Tất Lợi, mật rắn, nọc rắn và thịt rắn đều là những thành phần quý có tác dụng điều trị benh viem xuong khop . Cụ thể, mật rắn có tính mát, vị ngọt và đắng, tác dụng thanh nhiệt giải độc, hóa đờm trấn kinh, thường dùng để chữa chứng kinh phong, benh thoai hoa khop, nhất là thấp khớp cấp. Nọc rắn có tác dụng chỉ thống (giảm đau). Thịt rắn có vị ngọt, tính ấm, có tác dụng khu phong trừ thấp, thông kinh hoạt lạc và chỉ thống, bổ can thận, mà can thận khỏe thì xương cốt sẽ cường kiện, vững chắc.
Y học hiện đại cũng chỉ rõ: Cao rắn hổ mang là nguồn dưỡng chất dồi dào axit amin, là nguyên liệu thiết yếu để cơ thể tổng hợp các Proteoglycan giúp tăng cường chất dịch giúp giảm đau, bôi trơn, tái tạo và phục hồi sụn khớp bị tổn thương và giải quyết triệt để các chứng viêm. Bên cạnh đó, cao rắn hổ mang chứa nhiều canxi, saponozit, protit và dinh dưỡng cần thiết giúp nuôi dưỡng và bền vững các dây chằng, tăng cường hoạt dịch cho khớp và tái tạo sụn khớp, phục hồi ổ viêm.
Khi bị bệnh xương khớp, nếu người bệnh kiên trì uống cao rắn hổ mang với liều lượng thích hợp từ 2 tháng trở lên, các khớp xương sẽ trở nên khỏe mạnh và dẻo dai, thoải mái vận động trở lại. 


Đi tìm nguồn Rắn hổ mang

 
Rắn hổ mang có nhiều tác dụng quý là thế, song việc sử dụng và khai thác nguồn rắn tự nhiên để làm thuốc ngày nay lại vô cùng khó khăn, nhất là khi hổ mang đã có tên trong sách đỏ Việt Nam.
Tuy nhiên, điều may mắn là vào năm 1979, dưới sự giúp đỡ của Viện công nghệ sinh học và ngành Khoa học công nghệ Vĩnh Phúc, Trung tâm nhân giống rắn Vĩnh Sơn (gọi tắt là Trại rắn Vĩnh Sơn) đã ra đời và là trung tâm đầu tiên đạt chuẩn “Chăn nuôi theo điều kiện môi trường hoang dã” tại Việt Nam. Đây cũng là nơi độc quyền cung cấp nguồn dược liệu đầu vào để sản xuất Viên khớp Bách Xà, sản phẩm được Bộ Y tế trao tặng “Biểu tượng vàng vì sức khỏe cộng đồng” và góp phần “cứu” rắn tự nhiên đang có nguy cơ bị tận diệt.
(Theo dantri.com.vn)

Rắn hổ mang khắc tinh của bệnh xương khớp

Rắn hổ mang khắc tinh của bệnh xương khớp
Rắn hổ mang được coi là vị thuốc quý và có công dụng hữu hiệu bậc nhất cho các chua benh xuong khop bang dong y . Tuy nhiên, việc tiếp cận với bài thuốc này không dễ khi rắn tự nhiên đang có nguy cơ tận diệt.

Công dụng của Rắn hổ mang

 
Theo “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Giáo sư Đỗ Tất Lợi, mật rắn, nọc rắn và thịt rắn đều là những thành phần quý có tác dụng điều trị benh viem xuong khop . Cụ thể, mật rắn có tính mát, vị ngọt và đắng, tác dụng thanh nhiệt giải độc, hóa đờm trấn kinh, thường dùng để chữa chứng kinh phong, benh thoai hoa khop, nhất là thấp khớp cấp. Nọc rắn có tác dụng chỉ thống (giảm đau). Thịt rắn có vị ngọt, tính ấm, có tác dụng khu phong trừ thấp, thông kinh hoạt lạc và chỉ thống, bổ can thận, mà can thận khỏe thì xương cốt sẽ cường kiện, vững chắc.
Y học hiện đại cũng chỉ rõ: Cao rắn hổ mang là nguồn dưỡng chất dồi dào axit amin, là nguyên liệu thiết yếu để cơ thể tổng hợp các Proteoglycan giúp tăng cường chất dịch giúp giảm đau, bôi trơn, tái tạo và phục hồi sụn khớp bị tổn thương và giải quyết triệt để các chứng viêm. Bên cạnh đó, cao rắn hổ mang chứa nhiều canxi, saponozit, protit và dinh dưỡng cần thiết giúp nuôi dưỡng và bền vững các dây chằng, tăng cường hoạt dịch cho khớp và tái tạo sụn khớp, phục hồi ổ viêm.
Khi bị bệnh xương khớp, nếu người bệnh kiên trì uống cao rắn hổ mang với liều lượng thích hợp từ 2 tháng trở lên, các khớp xương sẽ trở nên khỏe mạnh và dẻo dai, thoải mái vận động trở lại. 


Đi tìm nguồn Rắn hổ mang

 
Rắn hổ mang có nhiều tác dụng quý là thế, song việc sử dụng và khai thác nguồn rắn tự nhiên để làm thuốc ngày nay lại vô cùng khó khăn, nhất là khi hổ mang đã có tên trong sách đỏ Việt Nam.
Tuy nhiên, điều may mắn là vào năm 1979, dưới sự giúp đỡ của Viện công nghệ sinh học và ngành Khoa học công nghệ Vĩnh Phúc, Trung tâm nhân giống rắn Vĩnh Sơn (gọi tắt là Trại rắn Vĩnh Sơn) đã ra đời và là trung tâm đầu tiên đạt chuẩn “Chăn nuôi theo điều kiện môi trường hoang dã” tại Việt Nam. Đây cũng là nơi độc quyền cung cấp nguồn dược liệu đầu vào để sản xuất Viên khớp Bách Xà, sản phẩm được Bộ Y tế trao tặng “Biểu tượng vàng vì sức khỏe cộng đồng” và góp phần “cứu” rắn tự nhiên đang có nguy cơ bị tận diệt.
(Theo dantri.com.vn)
Đọc thêm..
Thoát vị đĩa đệm là gì?

benh thoat vi dia dem cột sống luôn là một vấn đề thời sự vì đó là một nguyên nhân phổ biến gây đau cột sống cổ, cột sống thắt lưng cũng như đau chân tay. Ở Việt Nam có tới 17% người trên 60 tuổi bị mắc chứng đau lưng. Còn ở Mỹ, hằng năm có khoảng 2 triệu người phải nghỉ việc do đau thắt lưng, với chi phí điều trị lên tới 21 tỷ đô-la. Hiểu biết vấn đề này giúp chúng ta dự phòng có hiệu quả benh thoat vi dia dem cột sống và giảm bớt chi phí điều trị bệnh.

Các nguyên nhân gây chua thoat vi dia dem


Có những nguyên nhân gây nên thoat vi dia dem cột sống. Đầu tiên đó là các chấn thương cột sống. Thứ hai là tư thế xấu trong lao động. Đau thường xuất hiện khi ta nhấc vật nặng ở tư thế xấu. Tuổi tác và các bệnh lý cột sống bẩm sinh hay mắc phải như gai đôi cột sống, gù vẹo, thoái hóa cột sống cũng là các yếu tố thuận lợi gây bệnh. Cần chú ý rằng tổn thương đĩa đệm cũng có thể do nguyên nhân di truyền. Nếu bố mẹ có đĩa đệm yếu do bất thường về cấu trúc thì con cái cũng dễ bị thoát vị đĩa đệm. Cơ chế benh thoat vi dia dem được giải thích như sau. Bình thường đĩa đệm nằm ở khe giữa hai đốt sống, có lớp vỏ sợi bọc nhân nhày ở trung tâm. Nhờ tính đàn hồi, đĩa đệm làm nhiệm vụ như một bộ phận giảm xóc, bảo vệ cột sống khỏi bị chấn thương. Ở những người trên 30 tuổi, đĩa đệm thường không còn mềm mại, nhân nhày có thể bị khô, vòng sụn bên ngoài xơ hóa, rạn nứt và có thể rách. Trên cơ sở đó nếu có một lực tác động mạnh vào cột sống (chấn thương, gắng sức…), nhân nhày có thể qua chỗ rách của đĩa đệm thoát vị ra ngoài chui vào ống sống, chèn ép rễ thần kinh gây đau cột sống.

Các biểu hiện của dieu tri thoat vi dia dem

Đau cột sống và đau rễ thần kinh là các triệu chứng nổi bật nhất của bệnh. Đau thường tái phát nhiều lần, mỗi đợt kéo dài khoảng 1-2 tuần, sau đó lại khỏi bệnh. Có khi đau âm ỉ nhưng thường đau dữ dội, đau tăng khi ho, hắt hơi, cúi. Ngoài ra còn có cảm giác kiến bò, tê cóng, kim châm tương ứng với vùng đau. Dần dần, đau trở nên thường xuyên, kéo dài hàng tháng nếu không được điều trị.

Tuỳ theo vị trí dieu tri thoat vi dia dem có thể có các triệu chứng đặc trưng. Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ sẽ gây đau cột sống cổ, đau vai gáy, đau cánh tay. Nếu thoát vị đĩa đệm cột sống lưng thì sẽ có triệu chứng đau thần kinh liên sườn. Bệnh nhân sẽ thấy đau vùng cột sống lưng, lan theo hình vòng cung ra phía trước ngực, dọc theo khoang liên sườn. Còn nếu thoát vị đĩa đệm xảy ra ở vùng thắt lưng thì bệnh nhân sẽ thấy đau thắt lưng cấp hay mạn tính, đau thần kinh tọa, đau thần kinh đùi bì.

Người bệnh có tư thế ngay lưng hay vẹo về một bên để chống đau, cơ cạnh cột sống co cứng. Có trường hợp đau rất dữ dội và người bệnh phải nằm bất động về bên đỡ đau.

Khả năng vận động của bệnh nhân bị giảm sút rõ rệt. Bệnh nhân rất khó thực hiện các động tác cột sống như cúi ngửa, nghiêng xoay. Khi rễ thần thần kinh bị tổn thương thì bệnh nhân khó vận động các chi. Nếu tổn thương thần kinh cánh tay thì bệnh nhân không thể nhấc tay hay khó gấp, duỗi cánh tay, khả năng lao động và sinh hoạt bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nếu tổn thương thần kinh tọa thì bệnh nhân có thể không nhấc được gót hay mũi chân. Dần dần xuất hiện teo cơ chân bên tổn thương. Khi bệnh nặng người bệnh thấy chân tê bì, mất cảm giác ở chân đau hay đại, tiểu tiện không kiểm soát được.

Chẩn đoán chua thoat vi dia dem

Chẩn đoán dieu tri thoat vi dia dem không phải dễ dàng. Trên thực tế bệnh hay bị chẩn đoán nhầm với nhiều bệnh khác hay bị chẩn đoán muộn. Đó là do các triệu chứng lâm sàng chỉ có tính chất gợi ý. Để chẩn đoán xác định cần phải làm các xét nghiệm hiện đại, tốn kém mà không phải bệnh nhân nào cũng có điều kiện để làm. Chụp Xquang cột sống thông thường không phát hiện được thoát vị đĩa đệm vì tổn thương đĩa đệm không cản quang, do đó không thấy được trên phim. Người ta chỉ gián tiếp đánh giá tổn thương đĩa đệm khi thấy giảm chiều cao khe liên đốt sống, vẹo cột sống. Để “nhìn thấy” đĩa đệm bị tổn thương và thoát vị, phải chụp bao rễ cản quang, chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ hạt nhân. Khi đó đĩa đệm được “cắt thành từng lát” như khi người bán thịt ở chợ cắt miếng thịt trên sạp để cho người mua xem. Qua đó người ta có thể đánh giá được hình thái, tính chất tổn thương đĩa đệm, vị trí thoát vị vào ống sống hay vào lỗ liên hợp, cũng như mức độ hẹp ống sống do thoát vị đĩa đệm gây ra. Từ đó bác sĩ lập ra kế hoạch để quyết định các biện pháp điều trị hợp lý.

Hậu quả của benh thoat vi dia dem
Thoát vị đĩa đệm có thể để lại những hậu quả và những biến chứng nguy hiểm cho người bệnh. Thứ nhất, bệnh nhân có thể bị tàn phế suốt đời do bị liệt trong trường hợp đĩa đệm thoát vị chèn ép tuỷ cổ. Khi bị chèn ép các dây thần kinh vùng thắt lưng cùng, bệnh nhân có thể bị chứng đại tiểu tiện không tự chủ do rối loạn cơ tròn. Ngoài ra bệnh nhân bị teo cơ các chi nhanh chóng, khiến sinh hoạt bị ảnh hưởng nghiêm trọng, thậm chí mất khả năng lao động. Tất cả các biến chứng đó ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của người bệnh, chưa kể những tốn kém do chi phí điều trị.

Tóm lại, chua thoat vi dia dem cột sống là một bệnh khá thường gặp, có thể để lại nhiều hậu quả, ảnh hưởng đến cuộc sống và sinh hoạt của người bệnh. Do vậy khi bệnh nhân có các triệu chứng nói trên cần đến khám ở cơ sở y tế chuyên khoa, tốt nhất là gặp các bác sĩ chuyên khoa cơ xương khớp để được chẩn đoán và điều trị bệnh kịp thời

Nguy cơ tàn phế do bị thoát vị đĩa đệm cột sống

Thoát vị đĩa đệm là gì?

benh thoat vi dia dem cột sống luôn là một vấn đề thời sự vì đó là một nguyên nhân phổ biến gây đau cột sống cổ, cột sống thắt lưng cũng như đau chân tay. Ở Việt Nam có tới 17% người trên 60 tuổi bị mắc chứng đau lưng. Còn ở Mỹ, hằng năm có khoảng 2 triệu người phải nghỉ việc do đau thắt lưng, với chi phí điều trị lên tới 21 tỷ đô-la. Hiểu biết vấn đề này giúp chúng ta dự phòng có hiệu quả benh thoat vi dia dem cột sống và giảm bớt chi phí điều trị bệnh.

Các nguyên nhân gây chua thoat vi dia dem


Có những nguyên nhân gây nên thoat vi dia dem cột sống. Đầu tiên đó là các chấn thương cột sống. Thứ hai là tư thế xấu trong lao động. Đau thường xuất hiện khi ta nhấc vật nặng ở tư thế xấu. Tuổi tác và các bệnh lý cột sống bẩm sinh hay mắc phải như gai đôi cột sống, gù vẹo, thoái hóa cột sống cũng là các yếu tố thuận lợi gây bệnh. Cần chú ý rằng tổn thương đĩa đệm cũng có thể do nguyên nhân di truyền. Nếu bố mẹ có đĩa đệm yếu do bất thường về cấu trúc thì con cái cũng dễ bị thoát vị đĩa đệm. Cơ chế benh thoat vi dia dem được giải thích như sau. Bình thường đĩa đệm nằm ở khe giữa hai đốt sống, có lớp vỏ sợi bọc nhân nhày ở trung tâm. Nhờ tính đàn hồi, đĩa đệm làm nhiệm vụ như một bộ phận giảm xóc, bảo vệ cột sống khỏi bị chấn thương. Ở những người trên 30 tuổi, đĩa đệm thường không còn mềm mại, nhân nhày có thể bị khô, vòng sụn bên ngoài xơ hóa, rạn nứt và có thể rách. Trên cơ sở đó nếu có một lực tác động mạnh vào cột sống (chấn thương, gắng sức…), nhân nhày có thể qua chỗ rách của đĩa đệm thoát vị ra ngoài chui vào ống sống, chèn ép rễ thần kinh gây đau cột sống.

Các biểu hiện của dieu tri thoat vi dia dem

Đau cột sống và đau rễ thần kinh là các triệu chứng nổi bật nhất của bệnh. Đau thường tái phát nhiều lần, mỗi đợt kéo dài khoảng 1-2 tuần, sau đó lại khỏi bệnh. Có khi đau âm ỉ nhưng thường đau dữ dội, đau tăng khi ho, hắt hơi, cúi. Ngoài ra còn có cảm giác kiến bò, tê cóng, kim châm tương ứng với vùng đau. Dần dần, đau trở nên thường xuyên, kéo dài hàng tháng nếu không được điều trị.

Tuỳ theo vị trí dieu tri thoat vi dia dem có thể có các triệu chứng đặc trưng. Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ sẽ gây đau cột sống cổ, đau vai gáy, đau cánh tay. Nếu thoát vị đĩa đệm cột sống lưng thì sẽ có triệu chứng đau thần kinh liên sườn. Bệnh nhân sẽ thấy đau vùng cột sống lưng, lan theo hình vòng cung ra phía trước ngực, dọc theo khoang liên sườn. Còn nếu thoát vị đĩa đệm xảy ra ở vùng thắt lưng thì bệnh nhân sẽ thấy đau thắt lưng cấp hay mạn tính, đau thần kinh tọa, đau thần kinh đùi bì.

Người bệnh có tư thế ngay lưng hay vẹo về một bên để chống đau, cơ cạnh cột sống co cứng. Có trường hợp đau rất dữ dội và người bệnh phải nằm bất động về bên đỡ đau.

Khả năng vận động của bệnh nhân bị giảm sút rõ rệt. Bệnh nhân rất khó thực hiện các động tác cột sống như cúi ngửa, nghiêng xoay. Khi rễ thần thần kinh bị tổn thương thì bệnh nhân khó vận động các chi. Nếu tổn thương thần kinh cánh tay thì bệnh nhân không thể nhấc tay hay khó gấp, duỗi cánh tay, khả năng lao động và sinh hoạt bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nếu tổn thương thần kinh tọa thì bệnh nhân có thể không nhấc được gót hay mũi chân. Dần dần xuất hiện teo cơ chân bên tổn thương. Khi bệnh nặng người bệnh thấy chân tê bì, mất cảm giác ở chân đau hay đại, tiểu tiện không kiểm soát được.

Chẩn đoán chua thoat vi dia dem

Chẩn đoán dieu tri thoat vi dia dem không phải dễ dàng. Trên thực tế bệnh hay bị chẩn đoán nhầm với nhiều bệnh khác hay bị chẩn đoán muộn. Đó là do các triệu chứng lâm sàng chỉ có tính chất gợi ý. Để chẩn đoán xác định cần phải làm các xét nghiệm hiện đại, tốn kém mà không phải bệnh nhân nào cũng có điều kiện để làm. Chụp Xquang cột sống thông thường không phát hiện được thoát vị đĩa đệm vì tổn thương đĩa đệm không cản quang, do đó không thấy được trên phim. Người ta chỉ gián tiếp đánh giá tổn thương đĩa đệm khi thấy giảm chiều cao khe liên đốt sống, vẹo cột sống. Để “nhìn thấy” đĩa đệm bị tổn thương và thoát vị, phải chụp bao rễ cản quang, chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ hạt nhân. Khi đó đĩa đệm được “cắt thành từng lát” như khi người bán thịt ở chợ cắt miếng thịt trên sạp để cho người mua xem. Qua đó người ta có thể đánh giá được hình thái, tính chất tổn thương đĩa đệm, vị trí thoát vị vào ống sống hay vào lỗ liên hợp, cũng như mức độ hẹp ống sống do thoát vị đĩa đệm gây ra. Từ đó bác sĩ lập ra kế hoạch để quyết định các biện pháp điều trị hợp lý.

Hậu quả của benh thoat vi dia dem
Thoát vị đĩa đệm có thể để lại những hậu quả và những biến chứng nguy hiểm cho người bệnh. Thứ nhất, bệnh nhân có thể bị tàn phế suốt đời do bị liệt trong trường hợp đĩa đệm thoát vị chèn ép tuỷ cổ. Khi bị chèn ép các dây thần kinh vùng thắt lưng cùng, bệnh nhân có thể bị chứng đại tiểu tiện không tự chủ do rối loạn cơ tròn. Ngoài ra bệnh nhân bị teo cơ các chi nhanh chóng, khiến sinh hoạt bị ảnh hưởng nghiêm trọng, thậm chí mất khả năng lao động. Tất cả các biến chứng đó ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của người bệnh, chưa kể những tốn kém do chi phí điều trị.

Tóm lại, chua thoat vi dia dem cột sống là một bệnh khá thường gặp, có thể để lại nhiều hậu quả, ảnh hưởng đến cuộc sống và sinh hoạt của người bệnh. Do vậy khi bệnh nhân có các triệu chứng nói trên cần đến khám ở cơ sở y tế chuyên khoa, tốt nhất là gặp các bác sĩ chuyên khoa cơ xương khớp để được chẩn đoán và điều trị bệnh kịp thời
Đọc thêm..
Với sự phát triển của y học hiện đại, đặc biệt với các công nghệ chụp chiếu 3D, 4D,...nhờ chẩn đoán hình ảnh nên chúng ta phát hiện được cả thoát vị có triệu chứng (đau) và không có triệu chứng. Các triệu chứng chính của benh thoat vi dia dem là:
- Đau kịch phát khi ta kích thích nhóm cơ: khi cúi, khi ho hắt hơi hoặc gắng sức. Đau tăng lên khi ngồi lâu, hoặc tư thế đứng hoặc nằm sấp.
- Nếu dieu tri thoat vi dia dem vùng thấp của lưng: sẽ gây đau lưng, có kết hợp hoặc không triệu chứng đau dọc dây Thần kinh tọa.
- Nếu thoat vi dia dem vùng cổ: sẽ có triệu chứng cứng và đau cổ. Đau lan ra 2 vai và cánh tay (thường là một bên), kèm theo có cảm giác tê kiến bò và nặng tay hoặc yếu cẳng hoặc cánh tay
Khi nào phải đi khám bệnh? Những trường hợp nên đi khám bác sỹ chuyên khoa ngay là:
- Khi bệnh nhân bị đau lưng >1 tuần gây khó chịu cho hoạt động thường ngày.
- Đau lưng xảy ra ngay sau ngã hoặc sau chấn thương
- Cơn đau đánh thức vào ban đêm
- Đau kèm sốt và gầy sút chưa rõ nguyên nhân.
chua thoat vi dia dem vị thông thường nếu được chăm sóc tốt sẽ ổn sau đợt điều trị khoảng 4-6 tuần, nếu không đỡ cần khám và tiếp tục liệu trình điều trị mới.
Những trường hợp đau lưng có kèm rối loạn cơ tròn, (bí đại tiểu tiện hoặc ỉa đái không tự chủ, hoặc yếu chi), nên đi khám cấp cứu.

Đọc thêm : Phương pháp điều trị viêm da khớp dạng thấp

Các triệu chứng chính của bệnh thoát vị đĩa đệm

Với sự phát triển của y học hiện đại, đặc biệt với các công nghệ chụp chiếu 3D, 4D,...nhờ chẩn đoán hình ảnh nên chúng ta phát hiện được cả thoát vị có triệu chứng (đau) và không có triệu chứng. Các triệu chứng chính của benh thoat vi dia dem là:
- Đau kịch phát khi ta kích thích nhóm cơ: khi cúi, khi ho hắt hơi hoặc gắng sức. Đau tăng lên khi ngồi lâu, hoặc tư thế đứng hoặc nằm sấp.
- Nếu dieu tri thoat vi dia dem vùng thấp của lưng: sẽ gây đau lưng, có kết hợp hoặc không triệu chứng đau dọc dây Thần kinh tọa.
- Nếu thoat vi dia dem vùng cổ: sẽ có triệu chứng cứng và đau cổ. Đau lan ra 2 vai và cánh tay (thường là một bên), kèm theo có cảm giác tê kiến bò và nặng tay hoặc yếu cẳng hoặc cánh tay
Khi nào phải đi khám bệnh? Những trường hợp nên đi khám bác sỹ chuyên khoa ngay là:
- Khi bệnh nhân bị đau lưng >1 tuần gây khó chịu cho hoạt động thường ngày.
- Đau lưng xảy ra ngay sau ngã hoặc sau chấn thương
- Cơn đau đánh thức vào ban đêm
- Đau kèm sốt và gầy sút chưa rõ nguyên nhân.
chua thoat vi dia dem vị thông thường nếu được chăm sóc tốt sẽ ổn sau đợt điều trị khoảng 4-6 tuần, nếu không đỡ cần khám và tiếp tục liệu trình điều trị mới.
Những trường hợp đau lưng có kèm rối loạn cơ tròn, (bí đại tiểu tiện hoặc ỉa đái không tự chủ, hoặc yếu chi), nên đi khám cấp cứu.

Đọc thêm : Phương pháp điều trị viêm da khớp dạng thấp
Đọc thêm..
benh viem xuong khop là bệnh về khớp phổ biến nhất do sự lão hóa và tổn thương sụn khớp. Để ngăn ngừa bệnh này, bạn cần nắm được cả các nguy cơ gây benh xuong khop .

bệnh viêm xương khớp là bệnh về khớp phổ biến nhất do sự lão hóa và tổn thương sụn khớp. Sụn là mô trơn bao bọc các đầu xương của khớp và cho phép các xương trượt qua nhau. Khi sụn bị vỡ và mòn đi, các xương dưới sụn cọ sát vào nhau gây đau, sưng và cứng khớp, hình thành viêm xương khớp.

1. Các yếu tố nguy cơ có thể dẫn tới bệnh xương khớp

  • Tiền sử gia đình.
  • Thừa cân tăng nguy cơ viêm ở các khớp hông, gối, mắt cá chân và bàn chân vì thừa cân khiến sụn khớp bị hao mòn nhiều hơn.
  • Gãy xương hoặc các tổn thương khớp khác như chấn thương sụn và dây chằng trong khớp có thể dẫn tới viêm xương khớp sau này. 
  • Tập luyện nặng như nhảy, chạy bộ.
Viêm xương khớp là bệnh về khớp phổ biến nhất do sự lão hóa và tổn thương sụn khớp
Viêm xương khớp là bệnh về khớp phổ biến nhất do sự lão hóa và tổn thương sụn khớp. Ảnh minh họa
 2. Làm gì để chống benh xuong khop
  • Duy trì lối sống tích cực: Duy trì tập luyện tích cực giúp duy trì cử động cơ thể nói chung và khớp nói riêng. Bạn hãy tham khảo ý kiến bác sĩ về chế độ tập luyện tại nhà thích hợp. Tập luyện dưới nước như bơi hoặc thể dục nhịp điệu dưới nước là đặc biệt có lời.
  • Giảm cân: Thừa cân sẽ tăng tải trọng lên các khớp. Người béo phì tăng gấp đôi trọng lượng cơ thể lên lưng, gối và hông với mỗi bước di chuyển. Nguy cơ phát triển bệnh xương khớp là cao hơn gấp 4 lần ở người béo phì. Vì vậy, giảm cân nặng dư thừa chính là một cách để phòng ngừa benh viem xuong khop .
  •  Massage: Liệu pháp mát-xa có thể giúp giảm đau tạm thời. Nhưng phải đảm bảo rằng bạn được mát-xa bởi người có kinh nghiệm để biết cách chữa trị với khu vực gối nhạy cảm.
  • Bổ sung thực phẩm: Mặc dù chưa được chứng minh nhưng việc bổ sung glucosamine dường như không giúp ích trong việc kiểm soát viêm xương khớp.
Dữ liệu thực nghiệm đã cho thấy sự thiếu hụt vitamin B6 là một nguyên nhân dẫn tới tổn thương xương khớp. Do vậy bạn nên bổ sung những thực phẩm giàu vitamin B6 như thịt gà, chuối, bột yến mạch, hạt hướng dương, đậu nành.

Người bị bệnh xương khớp cũng cần tránh thiếu hụt kẽm , selen và axit folic cải thiện viêm xương khớp. Lượng kẽm được khuyến nghị dùng mỗi ngày là 15 mg. Các nguồn giàu kẽm là con hàu, các loại hạt. Các nguồn giàu selen là tỏi, quế, ngũ cốc nguyên cám.

Hãy đảm bảo rằng bạn bổ sung đủ thực phẩm giàu vitamin-C trong chế độ ăn vì những người bị viêm xương khớp được cho là bị thiếu vitamin C. Dứa tươi cũng rất tốt vì loại enzyme bromelain có trong dứa giúp giảm sưng và viêm do viêm xương khớp và viêm đa khớp dạng thấp .
(Theo afamily)

Tìm hiểu nguy cơ và cách phòng tránh bệnh viêm xương khớp

benh viem xuong khop là bệnh về khớp phổ biến nhất do sự lão hóa và tổn thương sụn khớp. Để ngăn ngừa bệnh này, bạn cần nắm được cả các nguy cơ gây benh xuong khop .

bệnh viêm xương khớp là bệnh về khớp phổ biến nhất do sự lão hóa và tổn thương sụn khớp. Sụn là mô trơn bao bọc các đầu xương của khớp và cho phép các xương trượt qua nhau. Khi sụn bị vỡ và mòn đi, các xương dưới sụn cọ sát vào nhau gây đau, sưng và cứng khớp, hình thành viêm xương khớp.

1. Các yếu tố nguy cơ có thể dẫn tới bệnh xương khớp

  • Tiền sử gia đình.
  • Thừa cân tăng nguy cơ viêm ở các khớp hông, gối, mắt cá chân và bàn chân vì thừa cân khiến sụn khớp bị hao mòn nhiều hơn.
  • Gãy xương hoặc các tổn thương khớp khác như chấn thương sụn và dây chằng trong khớp có thể dẫn tới viêm xương khớp sau này. 
  • Tập luyện nặng như nhảy, chạy bộ.
Viêm xương khớp là bệnh về khớp phổ biến nhất do sự lão hóa và tổn thương sụn khớp
Viêm xương khớp là bệnh về khớp phổ biến nhất do sự lão hóa và tổn thương sụn khớp. Ảnh minh họa
 2. Làm gì để chống benh xuong khop
  • Duy trì lối sống tích cực: Duy trì tập luyện tích cực giúp duy trì cử động cơ thể nói chung và khớp nói riêng. Bạn hãy tham khảo ý kiến bác sĩ về chế độ tập luyện tại nhà thích hợp. Tập luyện dưới nước như bơi hoặc thể dục nhịp điệu dưới nước là đặc biệt có lời.
  • Giảm cân: Thừa cân sẽ tăng tải trọng lên các khớp. Người béo phì tăng gấp đôi trọng lượng cơ thể lên lưng, gối và hông với mỗi bước di chuyển. Nguy cơ phát triển bệnh xương khớp là cao hơn gấp 4 lần ở người béo phì. Vì vậy, giảm cân nặng dư thừa chính là một cách để phòng ngừa benh viem xuong khop .
  •  Massage: Liệu pháp mát-xa có thể giúp giảm đau tạm thời. Nhưng phải đảm bảo rằng bạn được mát-xa bởi người có kinh nghiệm để biết cách chữa trị với khu vực gối nhạy cảm.
  • Bổ sung thực phẩm: Mặc dù chưa được chứng minh nhưng việc bổ sung glucosamine dường như không giúp ích trong việc kiểm soát viêm xương khớp.
Dữ liệu thực nghiệm đã cho thấy sự thiếu hụt vitamin B6 là một nguyên nhân dẫn tới tổn thương xương khớp. Do vậy bạn nên bổ sung những thực phẩm giàu vitamin B6 như thịt gà, chuối, bột yến mạch, hạt hướng dương, đậu nành.

Người bị bệnh xương khớp cũng cần tránh thiếu hụt kẽm , selen và axit folic cải thiện viêm xương khớp. Lượng kẽm được khuyến nghị dùng mỗi ngày là 15 mg. Các nguồn giàu kẽm là con hàu, các loại hạt. Các nguồn giàu selen là tỏi, quế, ngũ cốc nguyên cám.

Hãy đảm bảo rằng bạn bổ sung đủ thực phẩm giàu vitamin-C trong chế độ ăn vì những người bị viêm xương khớp được cho là bị thiếu vitamin C. Dứa tươi cũng rất tốt vì loại enzyme bromelain có trong dứa giúp giảm sưng và viêm do viêm xương khớp và viêm đa khớp dạng thấp .
(Theo afamily)
Đọc thêm..
cường giáp gây vô sinh ở nữ giới
Cường giáp gây vô sinh ở nữ giới
Ngày ngay không ít phái đẹp mắc phải căn vo sinh gây ảnh hưởng đến cuộc sống hạnh phúc gia đình. Có rất nhiều nguyên nhân gây ra vô sinh này. Một trong số các nguyên nhân đó là do cường giáp. Vậy cường giáp là gì? Những triệu chứng và nguyên nhân gây ra bệnh cường giáp là? Cũng như cách điều trị bệnh lý này sẽ đc trình bày cụ thể trong bài viết dưới đây .
1. Cường giáp là gì?
- Nó là tình trạng tăng quá mức lượng hormon tuyến giáp lưu hành trong máu do tăng hoạt động tuyến giáp. Sự dư thừa nồng độ của hormon giáp làm tăng chuyển hóa (cách sử dụng năng lượng), và tăng nguy cơ bị những bệnh khác như bệnh tim, loãng xương, các vấn đề sinh sản đối với phụ nữ.
- Là một trong những bệnh về nội tiết thường gặp nhất. Người mắc bệnh cường giáp này thường hay rất chủ quan và cũng là kiểu bệnh khó chẩn đoán vì thế rất dễ gây các biến chứng nguy hiểm đặc biệt ảnh hưởng đến thai kỳ.
2. Triệu chứng của bệnh
- Căng thẳng, khó chịu, đổ mồ hôi nhiều, tim đập nhanh, run tay, lo lắng, khó ngủ, da mềm mỏng, tóc dễ gãy, và cơ bắp yếu, đặc biệt là ở cánh tay trên và đùi, hay đi đại tiện nhưng ít khi sảy ra tiêu chảy, sụt cân dù có thể vẫn cảm thấy thèm ăn, nôn mửa...
- Với phái yếu hay có thêm triệu chứng kinh nguyệt bất ổn , có thể giảm đi hoặc không điều hòa.
3. Nguyên nhân gây bệnh
- Nguyên nhân chủ yếu, khoảng 70% người bị cường giáp mắc phải là do bệnh graves. Bệnh Graves là bệnh gây ra bởi các kháng thể trong máu kích thích tuyến giáp phát triển và tiết ra quá nhiều hormon tuyến giáp. Đây là bệnh di truyền và phổ biến ở nữ (nhiều gấp 5 lần so với nam giới).
- Sự dư thừa nồng độ của hormon giáp làm tăng chuyển hóa (cách sử dụng năng lượng), và tăng nguy cơ bị những bệnh khác như bệnh tim, loãng xương, nhiều vấn đề sinh sản đối với phụ nữ (Ảnh minh họa)
- Tăng hấp thu quá mức hormon giáp do uống quá nhiều hormon. Thường xảy ra ở những người lạm dụng thuốc giảm cân…
- Viêm tuyến giáp: Viêm tuyến giáp có thể xuất hiện sau nhiễm virus (viêm giáp bán cấp), gây sốt và đau họng nhất là khi nuốt..Viêm là kẻ hở làm cho lượng hormon giáp vào dòng máu gia tăng.
- Quá nhiều lượng iot: tuyến giáp sử dụng iot để tạo kích thích tố tuyến giáp. Phần vượt mức iôt có thể gây cường giáp.
- Tiết TSH bất thường. Một khối u tuyến yên có thể gây nên tăng tiết TSH (hormon kích thích tuyến giáp). Ðiều này có thể làm tăng các tín hiệu đến tuyến giáp, kích thích tuyến giáp sản xuất hormon giáp.
- U tuyến giáp và bướu cổ.
4. Chẩn đoán bệnh
- Việc chẩn đoán bệnh cường giáp đc xác nhận bởi các xét nghiệm máu mà cụ thể là đo TSH trong máu. TSH đc bài tiết từ tuyến yên, nếu hormon tuyến giáp đc bài tiết quá mức, TSH sẽ có tác dụng điều hoà làm giảm hormon xuống. Khi TSH giảm xuống, thì tuyến giáp lại bài tiết hormon trở lại.
Do đó, đo lượng TSH có thể giảm hoặc không phát hiện được trong trường hợp cường giáp. Tuy nhiên, cũng có các trường hợp ngoại lệ. Nếu lượng hormon tuyến giáp đc bài tiết nhiều quá thường là do u tuyến yên bài tiết TSH, khi đó lượng TSH tăng cao một cách bất thường. Lúc này người ta gọi là cường giáp thứ phát (tức là do nguyên nhân tại tuyến yên chứ không phải tại tuyến giáp).
Mặc dù xét nghiệm máu giúp chẩn đoán bệnh cường giáp, nhưng nó không còn giúp chỉ điểm đặc hiệu nguyên nhân gây ra cường giáp. Biểu hiện ở mắt gần như chắc chắn để chẩn đoán bệnh Graves ( còn gọi là bệnh Basedow). Chụp CTscan tuyến giáp kết hợp với tìm kháng thể giúp chẩn đoán nguyên nhân gây cường giáp. Các phương pháp này được lựa chọn tuỳ trường hợp.
5. Phương pháp chữa bệnh
Tùy vào độ tuổi và mức độ và mức độ nghiêm trọng của bệnh mà bác sỹ đưa ra những phương pháp điều trị thích hợp cho bạn. Hiện nay các phương pháp chữa cường giáp bao gồm:
- Điều trị triệu chứng: Đó là những loại thuốc có thể dùng ngay để điều trị triệu chứng do tăng hormon tuyến giáp quá mức, cũng như thuốc điều trị nhịp tim nhanh. Một trong những loại thuốc chính đc sử dụng để điều trị triệu chứng này là thuốc ức chế bêta (inderal, Tenormin, Lopressor).
- Sử dụng Thuốc kháng giáp: Có 2 loại thuốc kháng giáp chính có thể đc sử dụng: methimazole (Tapazole), propylthiouracil (PTU). Những thuốc này sẽ tích tụ ở mô tuyến giáp và ức chế bài tiết hormon tuyến giáp.
- Iot phóng xạ là điều trị phổ biến nhất. Sau khi uống 1 liều iot phóng xạ sẽ phá hủy một phần của tuyến giáp, nhưng nó không gây hại cho bất kỳ một bộ phận nào của cơ thể.
- Phẫu thuật để loại bỏ 1 phần tuyến giáp. Phương pháp này thích hợp cho phụ nữ mang thai, bệnh nhân lớn tuyến giáp và ở nhiều người có các triệu chứng bắt nguồn từ nén của các mô lân cận đến tuyến giáp, như khó nuốt, khàn giọng và khó thở.
(Theo eva.vn)

Cường giáp là gì? Tại sao gây vô sinh nữ?

cường giáp gây vô sinh ở nữ giới
Cường giáp gây vô sinh ở nữ giới
Ngày ngay không ít phái đẹp mắc phải căn vo sinh gây ảnh hưởng đến cuộc sống hạnh phúc gia đình. Có rất nhiều nguyên nhân gây ra vô sinh này. Một trong số các nguyên nhân đó là do cường giáp. Vậy cường giáp là gì? Những triệu chứng và nguyên nhân gây ra bệnh cường giáp là? Cũng như cách điều trị bệnh lý này sẽ đc trình bày cụ thể trong bài viết dưới đây .
1. Cường giáp là gì?
- Nó là tình trạng tăng quá mức lượng hormon tuyến giáp lưu hành trong máu do tăng hoạt động tuyến giáp. Sự dư thừa nồng độ của hormon giáp làm tăng chuyển hóa (cách sử dụng năng lượng), và tăng nguy cơ bị những bệnh khác như bệnh tim, loãng xương, các vấn đề sinh sản đối với phụ nữ.
- Là một trong những bệnh về nội tiết thường gặp nhất. Người mắc bệnh cường giáp này thường hay rất chủ quan và cũng là kiểu bệnh khó chẩn đoán vì thế rất dễ gây các biến chứng nguy hiểm đặc biệt ảnh hưởng đến thai kỳ.
2. Triệu chứng của bệnh
- Căng thẳng, khó chịu, đổ mồ hôi nhiều, tim đập nhanh, run tay, lo lắng, khó ngủ, da mềm mỏng, tóc dễ gãy, và cơ bắp yếu, đặc biệt là ở cánh tay trên và đùi, hay đi đại tiện nhưng ít khi sảy ra tiêu chảy, sụt cân dù có thể vẫn cảm thấy thèm ăn, nôn mửa...
- Với phái yếu hay có thêm triệu chứng kinh nguyệt bất ổn , có thể giảm đi hoặc không điều hòa.
3. Nguyên nhân gây bệnh
- Nguyên nhân chủ yếu, khoảng 70% người bị cường giáp mắc phải là do bệnh graves. Bệnh Graves là bệnh gây ra bởi các kháng thể trong máu kích thích tuyến giáp phát triển và tiết ra quá nhiều hormon tuyến giáp. Đây là bệnh di truyền và phổ biến ở nữ (nhiều gấp 5 lần so với nam giới).
- Sự dư thừa nồng độ của hormon giáp làm tăng chuyển hóa (cách sử dụng năng lượng), và tăng nguy cơ bị những bệnh khác như bệnh tim, loãng xương, nhiều vấn đề sinh sản đối với phụ nữ (Ảnh minh họa)
- Tăng hấp thu quá mức hormon giáp do uống quá nhiều hormon. Thường xảy ra ở những người lạm dụng thuốc giảm cân…
- Viêm tuyến giáp: Viêm tuyến giáp có thể xuất hiện sau nhiễm virus (viêm giáp bán cấp), gây sốt và đau họng nhất là khi nuốt..Viêm là kẻ hở làm cho lượng hormon giáp vào dòng máu gia tăng.
- Quá nhiều lượng iot: tuyến giáp sử dụng iot để tạo kích thích tố tuyến giáp. Phần vượt mức iôt có thể gây cường giáp.
- Tiết TSH bất thường. Một khối u tuyến yên có thể gây nên tăng tiết TSH (hormon kích thích tuyến giáp). Ðiều này có thể làm tăng các tín hiệu đến tuyến giáp, kích thích tuyến giáp sản xuất hormon giáp.
- U tuyến giáp và bướu cổ.
4. Chẩn đoán bệnh
- Việc chẩn đoán bệnh cường giáp đc xác nhận bởi các xét nghiệm máu mà cụ thể là đo TSH trong máu. TSH đc bài tiết từ tuyến yên, nếu hormon tuyến giáp đc bài tiết quá mức, TSH sẽ có tác dụng điều hoà làm giảm hormon xuống. Khi TSH giảm xuống, thì tuyến giáp lại bài tiết hormon trở lại.
Do đó, đo lượng TSH có thể giảm hoặc không phát hiện được trong trường hợp cường giáp. Tuy nhiên, cũng có các trường hợp ngoại lệ. Nếu lượng hormon tuyến giáp đc bài tiết nhiều quá thường là do u tuyến yên bài tiết TSH, khi đó lượng TSH tăng cao một cách bất thường. Lúc này người ta gọi là cường giáp thứ phát (tức là do nguyên nhân tại tuyến yên chứ không phải tại tuyến giáp).
Mặc dù xét nghiệm máu giúp chẩn đoán bệnh cường giáp, nhưng nó không còn giúp chỉ điểm đặc hiệu nguyên nhân gây ra cường giáp. Biểu hiện ở mắt gần như chắc chắn để chẩn đoán bệnh Graves ( còn gọi là bệnh Basedow). Chụp CTscan tuyến giáp kết hợp với tìm kháng thể giúp chẩn đoán nguyên nhân gây cường giáp. Các phương pháp này được lựa chọn tuỳ trường hợp.
5. Phương pháp chữa bệnh
Tùy vào độ tuổi và mức độ và mức độ nghiêm trọng của bệnh mà bác sỹ đưa ra những phương pháp điều trị thích hợp cho bạn. Hiện nay các phương pháp chữa cường giáp bao gồm:
- Điều trị triệu chứng: Đó là những loại thuốc có thể dùng ngay để điều trị triệu chứng do tăng hormon tuyến giáp quá mức, cũng như thuốc điều trị nhịp tim nhanh. Một trong những loại thuốc chính đc sử dụng để điều trị triệu chứng này là thuốc ức chế bêta (inderal, Tenormin, Lopressor).
- Sử dụng Thuốc kháng giáp: Có 2 loại thuốc kháng giáp chính có thể đc sử dụng: methimazole (Tapazole), propylthiouracil (PTU). Những thuốc này sẽ tích tụ ở mô tuyến giáp và ức chế bài tiết hormon tuyến giáp.
- Iot phóng xạ là điều trị phổ biến nhất. Sau khi uống 1 liều iot phóng xạ sẽ phá hủy một phần của tuyến giáp, nhưng nó không gây hại cho bất kỳ một bộ phận nào của cơ thể.
- Phẫu thuật để loại bỏ 1 phần tuyến giáp. Phương pháp này thích hợp cho phụ nữ mang thai, bệnh nhân lớn tuyến giáp và ở nhiều người có các triệu chứng bắt nguồn từ nén của các mô lân cận đến tuyến giáp, như khó nuốt, khàn giọng và khó thở.
(Theo eva.vn)
Đọc thêm..
Vấn đề hiếm muộn, vô sinh hiện nay đang trở lên rất phổ biến, và đặc biệt là tình trạng vô sinh nam có xu hướng gia tăng. Có nhiều nguyên do gây ra tình trạng này , trong đó có một nguyên do bắt nguồn từ thói quen ăn uống hàng ngày.
Dưới đây là những loại thực phẩm được xếp vào loại có ảnh hưởng đến chất lượng tinh trùng và gây vô sinh.

1. Cà phê uống nhiều có gây vô sinh?
- Cà phê làm tinh thần của chúng ta hưng phấn bởi vì trong cà phê hàm chứa cafein có khả năng kích thích thần kinh giao cảm của con người. Thần kinh giao cảm làm chủ tất cả mọi hoạt động của con người vào ban ngày. Nếu nó bị kích thích , chúng ta sẽ có tinh thần tỉnh táo , sinh khí tăng lên gấp bội. Còn giây thần kinh giao cảm phụ điều chế các hoạt động liên quan đến giới tính , khả năng “đứng thẳng” của chú nhỏ và sinh lý ban đêm của con người , nó có mối liên kết “trong và ngoài” với thần kinh giao cảm. Khi hoạt động của thần kinh giao cảm dồn dập , thần kinh giao cảm phụ sẽ bị chịu “chèn ép” , trên lâm sàng sẽ có biểu lộ là khả năng “chuyện ấy” giảm sút.
Cà phê uống nhiều có gây vô sinh?
Cà phê uống nhiều có gây vô sinh?
- Bởi vậy , những người thông thường hàng ngày có tinh thần căng thẳng , thần kinh giao cảm dễ hưng phấn thì trước khi “yêu” tốt nhất không nên uống cà phê hoặc những thức uống có chứa cafein để tránh “chèn ép” dây thần kinh giao cảm phụ , giảm thấp hứng thú trong “chuyện ấy”.
- Trong khi đó lại có một nghiên cứu từ Đại học Sao Paulo - Brazil cho hay , đàn ông liền uống một tách cà phê mỗi sáng thì tinh trùng có khả năng bơi lội nhanh hơn so với những người đàn ông không bao giờ uống.
- Họ đã thực hành nghiên cứu đối với 750 người đàn ông , họ sẽ tiến hành thắt ống dẫn tinh và chia thành bốn nhóm , dựa trên số lượng cà phê tiêu thụ , tức là những người không uống cà phê , uống cà phê ít , uống cà phê vừa phải và uống cà phê nhiều. Nghiên cứu này sử dụng cốc cà phê 100ml để tính lượng cà phê tiêu thụ.
- Kết quả , những người tiêu thụ cà phê hằng ngày có chất lượng tinh trùng tốt hơn nhiều hơn so với những người không tiêu thụ cà phê.
- Chất caffein trong cà phê giúp tinh trùng có khả năng bơi nhanh hơn , giúp cải thiện các mẫu tinh trùng trong quá trình thụ tinh ống nghiệm , biện pháp thụ tinh bên ngoài dạ con. Kết quả được công bố trong hội nghị của Hội y khoa sản của Mỹ mới diễn ra ở San Antonio.
2. Bia , rượu uống nhiều có gây vô sinh?
Nếu đã mắc các chứng bệnh về thận lại uống rượu , bia quá nhiều sẽ khiến acid uric lắng đọng khiến cho ống dẫn tinh tắc nghẽn , làm nên suy thận từ đó làm cho hoạt lực tinh thần giảm , mất hứng thú trong “chuyện ấy”
Bia , rượu uống nhiều có gây vô sinh?
Bia , rượu uống nhiều có gây vô sinh?
3. Trà sữa uống nhiều có gây vô sinh?
- Trà sữa trân châu ngoài thị trường phần lớn là dùng sữa cây cỏ có thành phần chủ yếu là dầu cây cỏ được hydro hóa , là một loại acid béo không bão hòa. Chất này sẽ giảm thiểu tiết hormone của đàn ông, ảnh hưởng xấu đến việc phát triển của tinh trùng.
Trà sữa uống nhiều có gây vô sinh?
Trà sữa uống nhiều có gây vô sinh?
4. Uống nhiều nước giải khát có khả năng gây vô sinh?
Theo một nghiên cứu của các nhà khoa học Đan Mạch , đàn ông uống khoảng 1 lít nước giải khát coca-cola mỗi ngày có khả năng ảnh hưởng không tốt tới chất lượng và số lượng “tinh binh” của họ.
Trung bình , những người đàn ông uống hơn 1 lít coca-cola/ngày có lượng tinh trùng thấp hơn 30% so với những người đàn ông không uống loại nước giải khát này.

Uống nhiều nước giải khát có khả năng gây vô sinh?
Uống nhiều nước giải khát có khả năng gây vô sinh?

Những loại đồ uống gây vô sinh nam

Vấn đề hiếm muộn, vô sinh hiện nay đang trở lên rất phổ biến, và đặc biệt là tình trạng vô sinh nam có xu hướng gia tăng. Có nhiều nguyên do gây ra tình trạng này , trong đó có một nguyên do bắt nguồn từ thói quen ăn uống hàng ngày.
Dưới đây là những loại thực phẩm được xếp vào loại có ảnh hưởng đến chất lượng tinh trùng và gây vô sinh.

1. Cà phê uống nhiều có gây vô sinh?
- Cà phê làm tinh thần của chúng ta hưng phấn bởi vì trong cà phê hàm chứa cafein có khả năng kích thích thần kinh giao cảm của con người. Thần kinh giao cảm làm chủ tất cả mọi hoạt động của con người vào ban ngày. Nếu nó bị kích thích , chúng ta sẽ có tinh thần tỉnh táo , sinh khí tăng lên gấp bội. Còn giây thần kinh giao cảm phụ điều chế các hoạt động liên quan đến giới tính , khả năng “đứng thẳng” của chú nhỏ và sinh lý ban đêm của con người , nó có mối liên kết “trong và ngoài” với thần kinh giao cảm. Khi hoạt động của thần kinh giao cảm dồn dập , thần kinh giao cảm phụ sẽ bị chịu “chèn ép” , trên lâm sàng sẽ có biểu lộ là khả năng “chuyện ấy” giảm sút.
Cà phê uống nhiều có gây vô sinh?
Cà phê uống nhiều có gây vô sinh?
- Bởi vậy , những người thông thường hàng ngày có tinh thần căng thẳng , thần kinh giao cảm dễ hưng phấn thì trước khi “yêu” tốt nhất không nên uống cà phê hoặc những thức uống có chứa cafein để tránh “chèn ép” dây thần kinh giao cảm phụ , giảm thấp hứng thú trong “chuyện ấy”.
- Trong khi đó lại có một nghiên cứu từ Đại học Sao Paulo - Brazil cho hay , đàn ông liền uống một tách cà phê mỗi sáng thì tinh trùng có khả năng bơi lội nhanh hơn so với những người đàn ông không bao giờ uống.
- Họ đã thực hành nghiên cứu đối với 750 người đàn ông , họ sẽ tiến hành thắt ống dẫn tinh và chia thành bốn nhóm , dựa trên số lượng cà phê tiêu thụ , tức là những người không uống cà phê , uống cà phê ít , uống cà phê vừa phải và uống cà phê nhiều. Nghiên cứu này sử dụng cốc cà phê 100ml để tính lượng cà phê tiêu thụ.
- Kết quả , những người tiêu thụ cà phê hằng ngày có chất lượng tinh trùng tốt hơn nhiều hơn so với những người không tiêu thụ cà phê.
- Chất caffein trong cà phê giúp tinh trùng có khả năng bơi nhanh hơn , giúp cải thiện các mẫu tinh trùng trong quá trình thụ tinh ống nghiệm , biện pháp thụ tinh bên ngoài dạ con. Kết quả được công bố trong hội nghị của Hội y khoa sản của Mỹ mới diễn ra ở San Antonio.
2. Bia , rượu uống nhiều có gây vô sinh?
Nếu đã mắc các chứng bệnh về thận lại uống rượu , bia quá nhiều sẽ khiến acid uric lắng đọng khiến cho ống dẫn tinh tắc nghẽn , làm nên suy thận từ đó làm cho hoạt lực tinh thần giảm , mất hứng thú trong “chuyện ấy”
Bia , rượu uống nhiều có gây vô sinh?
Bia , rượu uống nhiều có gây vô sinh?
3. Trà sữa uống nhiều có gây vô sinh?
- Trà sữa trân châu ngoài thị trường phần lớn là dùng sữa cây cỏ có thành phần chủ yếu là dầu cây cỏ được hydro hóa , là một loại acid béo không bão hòa. Chất này sẽ giảm thiểu tiết hormone của đàn ông, ảnh hưởng xấu đến việc phát triển của tinh trùng.
Trà sữa uống nhiều có gây vô sinh?
Trà sữa uống nhiều có gây vô sinh?
4. Uống nhiều nước giải khát có khả năng gây vô sinh?
Theo một nghiên cứu của các nhà khoa học Đan Mạch , đàn ông uống khoảng 1 lít nước giải khát coca-cola mỗi ngày có khả năng ảnh hưởng không tốt tới chất lượng và số lượng “tinh binh” của họ.
Trung bình , những người đàn ông uống hơn 1 lít coca-cola/ngày có lượng tinh trùng thấp hơn 30% so với những người đàn ông không uống loại nước giải khát này.

Uống nhiều nước giải khát có khả năng gây vô sinh?
Uống nhiều nước giải khát có khả năng gây vô sinh?
Đọc thêm..
Bình thường khi ban ngày bạn đi bơi hay vận động các môn thể thao khác bị chuột rút đã đành, nhưng nếu nửa đêm, nửa hôm nghỉ ngơi lại bị chuột rút, kể ra nghe cũng lạ. Cái lạ đó sẽ khiến không ít người giật mình khi biết chuột rút về đêm không phải là một hiện tượng bình thường, mà đó là một dấu hiệu cho thấy có thể bị suy hệ thống tĩnh mạch ở chân.

Hãy tìm hiểu về hiện tượng " chuột rút " về đêm này nhé!
Chuột rút, hay còn gọi vọp bẻ, là một triệu chứng rất thường gặp trong cuộc sống hàng ngày và có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi. Tuy nhiên thường bị hơn cả là ở những người trung niên và cao tuổi.

"Bệnh chuột rút" về đêm?

Bình thường khi ban ngày bạn đi bơi hay vận động các môn thể thao khác bị chuột rút đã đành, nhưng nếu nửa đêm, nửa hôm nghỉ ngơi lại bị chuột rút, kể ra nghe cũng lạ. Cái lạ đó sẽ khiến không ít người giật mình khi biết chuột rút về đêm không phải là một hiện tượng bình thường, mà đó là một dấu hiệu cho thấy có thể bị suy hệ thống tĩnh mạch ở chân.

Hãy tìm hiểu về hiện tượng " chuột rút " về đêm này nhé!
Chuột rút, hay còn gọi vọp bẻ, là một triệu chứng rất thường gặp trong cuộc sống hàng ngày và có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi. Tuy nhiên thường bị hơn cả là ở những người trung niên và cao tuổi.

Đọc thêm..
Trong thời gian gần đây trên thị trường có lan truyền tin sử dụng chăn điện lâu ngày sẽ bị hiem muon khiến cho người dân có không ít người lo lắng.
Nguy cơ vô sinh từ việc sử dụng "chăn điện"
Nguy cơ vô sinh từ việc sử dụng "chăn điện"

Nguy cơ vô sinh từ việc sử dụng "chăn điện"

Trong thời gian gần đây trên thị trường có lan truyền tin sử dụng chăn điện lâu ngày sẽ bị hiem muon khiến cho người dân có không ít người lo lắng.
Nguy cơ vô sinh từ việc sử dụng "chăn điện"
Nguy cơ vô sinh từ việc sử dụng "chăn điện"
Đọc thêm..
Mới đây Tổ chức Y tế Thế giới đã bổ sung thêm bệnh béo phì vào danh sách những nguyên nhân gây ra vo sinh do giảm khả năng ân ái.
Bên cạnh đó khi phái mạnh béo phì khiến nồng độ "tinh binh" giảm và ít di động, nữ thì gây rối loạn chu kỳ "năm ngày một tháng", không rụng trứng, đáp ứng kém với các kỹ thuật điều trị hiem muon, tăng tỉ lệ sảy thai...
Tỉ lệ người càng phình to khả năng sinh con càng khó
Trong những hệ lụy mà béo phì gây ra với phái mạnh do bị rối loạn chuyển hóa như tiểu loãng, tiểu đường, gút, rối loạn tình dục... thì đáng lo lắng là bị hiếm muộn, vô sinh. Nguyên nhân là do sự phối hợp của yếu tố di truyền và môi trường sống, cộng với lối sống, chế độ dinh dưỡng quá mức, thiếu vận động.
Tình trạng béo phì ảnh hưởng rất nhiều đến việc tận hưởng lạc thú tình dục của cả hai giới chứ chưa nói đến việc "hợp nhãn" của đối tác. Hơn nữa, điều tệ hại nhất của béo là gây nên tình trạng hiem muon, thậm chí vô sinh. Vì vậy, chế độ dinh dưỡng hợp lý, tăng cường vận động là lối thoát duy nhất cho cơ thể trở nên thon gọn, nhẹ nhàng
Theo TS. Lê Vương Văn Vệ, Giám đốc Bệnh viện Nam học và Hiếm muộn Hà Nội phân tích: "Đàn ông béo phì số lượng "tinh binh" trung bình khoảng 20 - 150 triệu tinh trùng/ml tinh dịch, ít hơn những người có trọng lượng bình thường. Điều này có tác động không nhỏ đến khả năng gặp trứng của "tinh binh". Hơn nữa, mức độ di động "tinh binh" của những người béo phì cũng kém linh hoạt hơn.

 Phụ nữ béo phì ngoài chuyện không hợp nhãn với chồng còn gây nên hiện tượng rối loạn chu kỳ kinh nguyệt
Phụ nữ béo phì ngoài chuyện không hợp nhãn với chồng còn gây nên hiện tượng rối loạn chu kỳ kinh nguyệt
Thông thường, đàn ông với trọng lượng lớn sẽ có nguy cơ sở hữu số "tinh binh" dị dạng cao, có độ di động kém cao gấp 3,4 lần so với đàn ông bình thường. Trong khi, "quãng đường" "tinh binh" gặp trứng phải trải qua rất nhiều chặng, mất khoảng 7 - 10 giờ mới tới đích. 10 giờ tự bơi trong môi trường không có nhiều nước (dịch) và nước lại quá đặc nên chỉ những "tinh binh" di động linh hoạt, khỏe mới có thể cán đích.
Với phụ nữ béo phì ngoài chuyện không hợp nhãn với chồng còn gây nên hiện tượng rối loạn chu kỳ "năm ngày một tháng" và liên quan mật thiết với hội chứng buồng trứng đa nang, rối loạn nội tiết khác. Điều này ảnh hưởng hết sức tiêu cực đến quá trình phát triển trứng và rụng trứng bình thường. Ngay cả khi trứng đã rụng thì việc "thừa cân" cũng làm cho trứng khó làm tổ. Hơn nữa, quá béo cũng làm thay đổi thành phần mỡ trong máu, tăng khả năng viêm nhiễm, giảm khả năng sống của trứng và phôi thai. Hơn nữa, phụ nữ béo phì cũng khó đáp ứng các kỹ thuật trị liệu chứng hiếm muộn, tăng khả năng sảy thai".
Đây cũng là lý do vì sao, mới đây Tổ chức Y tế Thế giới đã phải bổ sung béo phì vào danh sách những nguyên nhân gây vô sinh do giảm khả năng "yêu" và khả năng thụ thai. Các nguyên nhân gây vô sinh ở nam có số cân quá khổ chiếm khoảng 40% các cặp vợ chồng vô sinh, ngoài ra còn khoảng 20 - 30% vừa kết hợp với các nguyên nhân của phụ nữ. Phần lớn nguyên nhân gây vô sinh nam được biết rõ về lâm sàng như: Tinh hoàn ẩn, xoắn, chấn thương, nhiễm khuẩn sinh dục tiết niệu, miễn dịch "tinh binh", suy giảm thiểu năng sinh dục, rối loạn sinh tinh và tắc nghẽn các ống dẫn tinh.
Các chuyên gia y tế phân tích, quá béo gây mất cân bằng nội tiết tố trong cơ thể, đặc biệt là testosterone và estrogen (hormon sinh dục nam và nữ). Các quý ông bị béo bụng, chiếc bụng to làm ức chế quá trình sản sinh hormon sinh dục nam. Các ông vừa thiếu hormon sinh dục nam, lại thừa hormon sinh dục nữ, phụ nữ thì ngược lại nên không thể tránh khỏi tình trạng yếu sinh lý. Hormon nam giảm, cơ bắp sẽ teo dần, ham muốn và khả năng tình dục sẽ giảm theo. Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng hiem muon ở người thừa cân.
Tuy nhiên, các bác sĩ chuyên khoa cũng cho rằng, không phải bất kỳ nam giới hay nữ giới nào cũng đều bị hiếm muộn hoặc vo sinh. Có điều nguy cơ hiếm muộn, vô sinh ở người mắc chứng béo phì luôn cao hơn người bình thường.
Dưới đây là 1 số lời khuyên của các bác sĩ dành cho các bạn:
TS. Lê Vương Văn Vệ khuyên rằng: "Trước khi quá muộn, những người có thân hình quá khổ cần phải sớm tiến hành các phương án can thiệp. Với những người đang nuôi ý định mang thai hãy cố gắng giảm cân bằng các phương pháp an toàn, hiệu quả như tập thể dục đều đặn, thiết lập chế độ dinh dưỡng khoa học, ăn nhiều hoa quả, rau xanh, sử dụng thuốc dành cho người béo phì... Với những người đang mang thai phải hạn chế tăng cân, kiểm soát cân nặng trong thai kỳ song song với việc bổ sung dinh dưỡng cần thiết cho thai nhi một cách hợp lý".
Ths.BS Trịnh Hoàng Giang, Trung tâm Nam học, Bệnh viện Việt Đức, Hà Nội khuyên rằng, nếu không muốn mình bị đẩy vào tình huống hiếm muộn thì những người thừa cân cần tập thể dục thường xuyên. Trong trường hợp lười tập thể dục nên đi xe đạp để thân thể có sự vận động. Kiểm tra sức khỏe định kỳ để được bác sĩ tư vấn cách trị đường huyết, uống thuốc để hãm mỡ máu, giữ ổn định và hỗ trợ điều trị cương dương ở nam. Thực tế nhiều trường hợp nam, chỉ sau 1 tháng điều trị đã hồi phục lại phong độ của 2- 3 năm về trước. Nữ sau một thời gian vận động cũng cho thấy buồng trứng phát triển bình thường trở lại. 
Chia sẻ 1 số cách giảm béo hiệu quả:
1. Dinh dưỡng hợp lý: 
- Việc ăn uống thiếu chất hoặc thừa chất sẽ làm suy giảm sức khoẻ, kéo theo bệnh tật và gây mất hứng thú khi "yêu". Để luôn được "lên đỉnh" cả hai cần có một chế độ dinh dưỡng cân đối, hợp lý mỗi ngày.
2. Ngủ đủ giấc, tinh thần lạc quan: 
- Nên ngủ đúng giờ và ngủ đủ giấc. Nếu thường xuyên bị mất ngủ hoặc ngủ quá nhiều đều không tốt cho sức khoẻ. Kiên trì luyện tập để có được giấc ngủ một cách tự nhiên bằng các bài tập thể dục nhẹ nhàng, thư giãn trước khi ngủ. Ngâm chân bằng nước ấm, massage trước khi ngủ sẽ có giấc ngủ tự nhiên.
3. Tăng cường vận động: 
- Bạn nên tập những bài luyện tập có cường độ cao đốt cháy năng lượng để giảm cân.
(Theo Gia đình & Xã hội)

Người béo phì dễ mắc bệnh vô sinh hiếm muộn?

Mới đây Tổ chức Y tế Thế giới đã bổ sung thêm bệnh béo phì vào danh sách những nguyên nhân gây ra vo sinh do giảm khả năng ân ái.
Bên cạnh đó khi phái mạnh béo phì khiến nồng độ "tinh binh" giảm và ít di động, nữ thì gây rối loạn chu kỳ "năm ngày một tháng", không rụng trứng, đáp ứng kém với các kỹ thuật điều trị hiem muon, tăng tỉ lệ sảy thai...
Tỉ lệ người càng phình to khả năng sinh con càng khó
Trong những hệ lụy mà béo phì gây ra với phái mạnh do bị rối loạn chuyển hóa như tiểu loãng, tiểu đường, gút, rối loạn tình dục... thì đáng lo lắng là bị hiếm muộn, vô sinh. Nguyên nhân là do sự phối hợp của yếu tố di truyền và môi trường sống, cộng với lối sống, chế độ dinh dưỡng quá mức, thiếu vận động.
Tình trạng béo phì ảnh hưởng rất nhiều đến việc tận hưởng lạc thú tình dục của cả hai giới chứ chưa nói đến việc "hợp nhãn" của đối tác. Hơn nữa, điều tệ hại nhất của béo là gây nên tình trạng hiem muon, thậm chí vô sinh. Vì vậy, chế độ dinh dưỡng hợp lý, tăng cường vận động là lối thoát duy nhất cho cơ thể trở nên thon gọn, nhẹ nhàng
Theo TS. Lê Vương Văn Vệ, Giám đốc Bệnh viện Nam học và Hiếm muộn Hà Nội phân tích: "Đàn ông béo phì số lượng "tinh binh" trung bình khoảng 20 - 150 triệu tinh trùng/ml tinh dịch, ít hơn những người có trọng lượng bình thường. Điều này có tác động không nhỏ đến khả năng gặp trứng của "tinh binh". Hơn nữa, mức độ di động "tinh binh" của những người béo phì cũng kém linh hoạt hơn.

 Phụ nữ béo phì ngoài chuyện không hợp nhãn với chồng còn gây nên hiện tượng rối loạn chu kỳ kinh nguyệt
Phụ nữ béo phì ngoài chuyện không hợp nhãn với chồng còn gây nên hiện tượng rối loạn chu kỳ kinh nguyệt
Thông thường, đàn ông với trọng lượng lớn sẽ có nguy cơ sở hữu số "tinh binh" dị dạng cao, có độ di động kém cao gấp 3,4 lần so với đàn ông bình thường. Trong khi, "quãng đường" "tinh binh" gặp trứng phải trải qua rất nhiều chặng, mất khoảng 7 - 10 giờ mới tới đích. 10 giờ tự bơi trong môi trường không có nhiều nước (dịch) và nước lại quá đặc nên chỉ những "tinh binh" di động linh hoạt, khỏe mới có thể cán đích.
Với phụ nữ béo phì ngoài chuyện không hợp nhãn với chồng còn gây nên hiện tượng rối loạn chu kỳ "năm ngày một tháng" và liên quan mật thiết với hội chứng buồng trứng đa nang, rối loạn nội tiết khác. Điều này ảnh hưởng hết sức tiêu cực đến quá trình phát triển trứng và rụng trứng bình thường. Ngay cả khi trứng đã rụng thì việc "thừa cân" cũng làm cho trứng khó làm tổ. Hơn nữa, quá béo cũng làm thay đổi thành phần mỡ trong máu, tăng khả năng viêm nhiễm, giảm khả năng sống của trứng và phôi thai. Hơn nữa, phụ nữ béo phì cũng khó đáp ứng các kỹ thuật trị liệu chứng hiếm muộn, tăng khả năng sảy thai".
Đây cũng là lý do vì sao, mới đây Tổ chức Y tế Thế giới đã phải bổ sung béo phì vào danh sách những nguyên nhân gây vô sinh do giảm khả năng "yêu" và khả năng thụ thai. Các nguyên nhân gây vô sinh ở nam có số cân quá khổ chiếm khoảng 40% các cặp vợ chồng vô sinh, ngoài ra còn khoảng 20 - 30% vừa kết hợp với các nguyên nhân của phụ nữ. Phần lớn nguyên nhân gây vô sinh nam được biết rõ về lâm sàng như: Tinh hoàn ẩn, xoắn, chấn thương, nhiễm khuẩn sinh dục tiết niệu, miễn dịch "tinh binh", suy giảm thiểu năng sinh dục, rối loạn sinh tinh và tắc nghẽn các ống dẫn tinh.
Các chuyên gia y tế phân tích, quá béo gây mất cân bằng nội tiết tố trong cơ thể, đặc biệt là testosterone và estrogen (hormon sinh dục nam và nữ). Các quý ông bị béo bụng, chiếc bụng to làm ức chế quá trình sản sinh hormon sinh dục nam. Các ông vừa thiếu hormon sinh dục nam, lại thừa hormon sinh dục nữ, phụ nữ thì ngược lại nên không thể tránh khỏi tình trạng yếu sinh lý. Hormon nam giảm, cơ bắp sẽ teo dần, ham muốn và khả năng tình dục sẽ giảm theo. Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng hiem muon ở người thừa cân.
Tuy nhiên, các bác sĩ chuyên khoa cũng cho rằng, không phải bất kỳ nam giới hay nữ giới nào cũng đều bị hiếm muộn hoặc vo sinh. Có điều nguy cơ hiếm muộn, vô sinh ở người mắc chứng béo phì luôn cao hơn người bình thường.
Dưới đây là 1 số lời khuyên của các bác sĩ dành cho các bạn:
TS. Lê Vương Văn Vệ khuyên rằng: "Trước khi quá muộn, những người có thân hình quá khổ cần phải sớm tiến hành các phương án can thiệp. Với những người đang nuôi ý định mang thai hãy cố gắng giảm cân bằng các phương pháp an toàn, hiệu quả như tập thể dục đều đặn, thiết lập chế độ dinh dưỡng khoa học, ăn nhiều hoa quả, rau xanh, sử dụng thuốc dành cho người béo phì... Với những người đang mang thai phải hạn chế tăng cân, kiểm soát cân nặng trong thai kỳ song song với việc bổ sung dinh dưỡng cần thiết cho thai nhi một cách hợp lý".
Ths.BS Trịnh Hoàng Giang, Trung tâm Nam học, Bệnh viện Việt Đức, Hà Nội khuyên rằng, nếu không muốn mình bị đẩy vào tình huống hiếm muộn thì những người thừa cân cần tập thể dục thường xuyên. Trong trường hợp lười tập thể dục nên đi xe đạp để thân thể có sự vận động. Kiểm tra sức khỏe định kỳ để được bác sĩ tư vấn cách trị đường huyết, uống thuốc để hãm mỡ máu, giữ ổn định và hỗ trợ điều trị cương dương ở nam. Thực tế nhiều trường hợp nam, chỉ sau 1 tháng điều trị đã hồi phục lại phong độ của 2- 3 năm về trước. Nữ sau một thời gian vận động cũng cho thấy buồng trứng phát triển bình thường trở lại. 
Chia sẻ 1 số cách giảm béo hiệu quả:
1. Dinh dưỡng hợp lý: 
- Việc ăn uống thiếu chất hoặc thừa chất sẽ làm suy giảm sức khoẻ, kéo theo bệnh tật và gây mất hứng thú khi "yêu". Để luôn được "lên đỉnh" cả hai cần có một chế độ dinh dưỡng cân đối, hợp lý mỗi ngày.
2. Ngủ đủ giấc, tinh thần lạc quan: 
- Nên ngủ đúng giờ và ngủ đủ giấc. Nếu thường xuyên bị mất ngủ hoặc ngủ quá nhiều đều không tốt cho sức khoẻ. Kiên trì luyện tập để có được giấc ngủ một cách tự nhiên bằng các bài tập thể dục nhẹ nhàng, thư giãn trước khi ngủ. Ngâm chân bằng nước ấm, massage trước khi ngủ sẽ có giấc ngủ tự nhiên.
3. Tăng cường vận động: 
- Bạn nên tập những bài luyện tập có cường độ cao đốt cháy năng lượng để giảm cân.
(Theo Gia đình & Xã hội)
Đọc thêm..
Theo bạn việc bổ sung vitamin D không cải thiện viêm thoái hóa khớp gối là đúng hay sai?
Mới đây các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng việc các bệnh nhân dùng các sản phẩm bổ sung vitamin D không làm giảm đau hoặc hạn chế tình trạng thoái hoá khớp ở những người bị viêm xương khớp gối hay viêm đa khớp dạng thấp.
Mặc dù một số nghiên cứu trước đây cho thấy vitamin D có thể có lợi cho những bệnh nhân này song tiến sĩ Diane Horowitz, một chuyên gia về bệnh thấp khớp thuộc Hệ thống Y tế North Shore-LIJ ở New York (Mỹ) cho rằng “có những bằng chứng trái ngược nhau về vai trò của việc bổ sung vitamin D trong giảm nhẹ các dấu hiệu và triệu chứng của viêm xương khớp”.
Vitamin D không cải thiện việc điều trị viêm khớp gối?
Ảnh minh họa
Nghiên cứu mới này kéo dài 2 năm gồm gần 150 bệnh nhân bị viêm xương thoái hóa khớp gối. Những người tham gia tuổi trung bình là 62 và được dùng 2.000IU (đơn vị quốc tế) vitamin D3 mỗi ngày hoặc giả dược bất hoạt.

Nhóm nghiên cứu do Timothy McAlindon, thuộc Trung tâm Y khoa Tufts ở Boston (Mỹ), làm trưởng nhóm, cho biết tại thời điểm kết thúc nghiên cứu, những bệnh nhân dùng sản phẩm bổ sung vitamin D không có khác biệt đáng kể về độ đau khớp gối và mất sụn so với những người dùng giả dược.

Viêm xương khớp gối là một bệnh hay gặp liên quan đến tuổi tác. Bệnh ảnh hưởng đáng kể đến khả năng vận động của bệnh nhân, khiến họ phải nghỉ hưu sớm và phải điều trị ngoại khoa.

Tiến sĩ Horowitz cho biết mặc dù nghiên cứu này cho thấy rằng vitamin D không có tác dụng chống viêm xương khớp gối, song duy trì nồng độ vitamin D phù hợp là cần thiết để có sức khỏe tốt. Điều này có nghĩa là những người bị thiếu hụt vitamin D nên tuân thủ những hướng dẫn của bác sĩ về bổ sung vitamin này.

Các nghiên cứu trên đã được đăng trên số ra ngày 9/1 của tờ Journal of the American Medical Association.

Theo Health
Nguồn dantri.com.vn

Vitamin D không cải thiện việc điều trị viêm khớp gối?

Theo bạn việc bổ sung vitamin D không cải thiện viêm thoái hóa khớp gối là đúng hay sai?
Mới đây các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng việc các bệnh nhân dùng các sản phẩm bổ sung vitamin D không làm giảm đau hoặc hạn chế tình trạng thoái hoá khớp ở những người bị viêm xương khớp gối hay viêm đa khớp dạng thấp.
Mặc dù một số nghiên cứu trước đây cho thấy vitamin D có thể có lợi cho những bệnh nhân này song tiến sĩ Diane Horowitz, một chuyên gia về bệnh thấp khớp thuộc Hệ thống Y tế North Shore-LIJ ở New York (Mỹ) cho rằng “có những bằng chứng trái ngược nhau về vai trò của việc bổ sung vitamin D trong giảm nhẹ các dấu hiệu và triệu chứng của viêm xương khớp”.
Vitamin D không cải thiện việc điều trị viêm khớp gối?
Ảnh minh họa
Nghiên cứu mới này kéo dài 2 năm gồm gần 150 bệnh nhân bị viêm xương thoái hóa khớp gối. Những người tham gia tuổi trung bình là 62 và được dùng 2.000IU (đơn vị quốc tế) vitamin D3 mỗi ngày hoặc giả dược bất hoạt.

Nhóm nghiên cứu do Timothy McAlindon, thuộc Trung tâm Y khoa Tufts ở Boston (Mỹ), làm trưởng nhóm, cho biết tại thời điểm kết thúc nghiên cứu, những bệnh nhân dùng sản phẩm bổ sung vitamin D không có khác biệt đáng kể về độ đau khớp gối và mất sụn so với những người dùng giả dược.

Viêm xương khớp gối là một bệnh hay gặp liên quan đến tuổi tác. Bệnh ảnh hưởng đáng kể đến khả năng vận động của bệnh nhân, khiến họ phải nghỉ hưu sớm và phải điều trị ngoại khoa.

Tiến sĩ Horowitz cho biết mặc dù nghiên cứu này cho thấy rằng vitamin D không có tác dụng chống viêm xương khớp gối, song duy trì nồng độ vitamin D phù hợp là cần thiết để có sức khỏe tốt. Điều này có nghĩa là những người bị thiếu hụt vitamin D nên tuân thủ những hướng dẫn của bác sĩ về bổ sung vitamin này.

Các nghiên cứu trên đã được đăng trên số ra ngày 9/1 của tờ Journal of the American Medical Association.

Theo Health
Nguồn dantri.com.vn
Đọc thêm..
Bài viết này chúng ta sẽ tìm hiểu về dinh dưỡng để bổ sung cho xương khớp.
1. Dinh dưỡng nào cho xương khớp?
Trước tiên cần hiểu xương khớp được cấu tạo bởi nhiều thành phần, mỗi bộ phận bao gồm: cơ, dây chằng, sụn, xương, gân. Các thành phần này hoạt động một cách nhịp nhàng nhằm giúp cơ thể chúng ta có thể di chuyển, đây là chức năng rất quan trọng đổi với con người cũng là hoạt động điển hình của xương khớp. Tuy nhiên, vấn đề dinh dưỡng cho xương khớp lâu nay đang bị con người bỏ qua hoặc vô tình quên đi việc chăm sóc và nuôi dưỡng để các khớp khỏe mạnh dẫn đến nhiều người bị các benh xuong khop như thoái hóa khớp, thoat vi dia dem, viêm đa khớp dạng thấp,....
2. Dinh dưỡng cần thiết cho xương khớp
- Như chúng ta biết, trong cấu tạo của xương khớp mỗi thành phần có một chức năng khác nhau. Dây chằng có nhiệm vụ neo xương với xương, giữ cho khớp được vững; Gân nối xương với cơ và chuyển sức co của cơ vào xương; Sụn là lớp tế bào trong như thạch, rất bền dai, có thể ép và đàn hồi, không có mạch máu và dây thần kinh. Sụn có công dụng che chở đầu xương như lớp đệm, tránh sự mài xát khi khớp cử động. Tuy quan trọng như vậy nhưng sụn lại là những tế bào rất mỏng manh, khó nuôi cấy, dễ thoai hoa khop mà sự tái tạo lại rất khó khăn. Sụn chứa 75% nước. Khi khớp cử động, nước thấm qua lại màng hoạt dịch để lấy chất bổ dưỡng nuôi sụn. Vì thế, khi khớp bất động, sụn sẽ bị suy yếu. Sụn không có dây thần kinh nên không có “trách nhiệm” về cảm giác đau trong bệnh viêm khớp. Khớp nằm trong một cái túi, các tế bào ở mặt trong của túi tiết ra chất hoạt dịch lỏng, nhờn như dầu, giúp khớp trơn tru khi trườn lên nhau hoặc khi co duỗi, cử động. Hoạt dịch cũng là nguồn cung cấp chất bổ dưỡng cho sụn vì sụn không có mạch máu.
- Xương khớp cũng như cơ thể, cần được nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ và cung cấp đầy đủ những dinh dưỡng cần thiết để nó luôn khỏe mạnh phục vụ quá trình vận động của con người. Vì vậy, chế độ dinh dưỡng phù hợp cho cơ thể cũng chính là dinh dưỡng nuôi xương khớp để nó luôn hoạt động trơn tru và không gây đau nhức khi thay đổi thời tiết.
Dinh dưỡng cho xương khớp
Ảnh minh họa
3. Chế độ dinh dưỡng
- Cân bằng và đa dạng hóa việc thu nạp vitamin, khoáng chất, chất chống ô xy hóa và các chất dinh dưỡng khác. Đồng thời thực hiện chế độ ăn uống giảm cân đối với những bệnh nhân thuộc nhóm thừa cân, béo phì bởi những người thừa cân, béo phì cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới chứng đau nhức xương thoái hóa khớp. Người gầy yếu bị viêm đa khớp dạng thấp nên ăn nhiều bữa nhỏ để hấp thu dinh dưỡng tốt hơn. Đối với bệnh nhân bị thoai hoa khopviem da khop dang thap cần cung cấp lượng đạm nhiều hơn, sử dụng dần thực vật, dầu omega 3 và dầu cá. Nên ăn thịt heo, thịt gà, vịt, cá biển, tôm, cua, sò….. ăn nhiều rau và trái cây tươi như đu đủ, dứa, chanh, bưởi vì các loại trái cây này là nguồn cung ứng men kháng viêm và sinh tố C, 2 hoạt chất có tác dụng kháng viêm và hằng ngày cần uống đầy đủ nước. Đối với bệnh nhân bị Gút, cần hạn chế đạm, các loại thịt gà, thịt bò, nội tạng như gan, thận, tim.., cá, trứng, xúc xích, các loại đậu, măng tây, nấm, súp lơ. Hạn chế các chất béo từ mỡ động vật, không dùng các đồ uống có cồn như rượu, bia, không nên hút thuốc lá thay vào đó người bệnh nên ăn dầu đậu nành, dầu hạnh nhân... và ăn nhiều rau xanh như rau cải, rau mồng tơi…, trái cây như đu đủ nhằm cung cấp nhiều chất xơ và nguồn dinh dưỡng tốt. Người bị bệnh Gút mạn tính cần nghiêm túc thực hiện một chế độ dinh dưỡng phù hợp để giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, tiểu đường và béo phì.
- Cho tới nay, chưa có dược phẩm hay phương thức nào có thể phục hồi tế bào sụn, từ đó chữa dứt bệnh xương khớp để phòng ngừa và hạn chế các cơn đau tập luyện thể dục nhẹ nhàng, nghỉ ngơi khi đau, các động tác nhẹ nhàng có tác dụng thư giãn các khớp, tránh tình trạng để các khớp bị ì, ít hoạt động. Giảm cân là yếu tố quan trọng, bởi nó sẽ giúp giảm áp lực cho khớp. Người béo phì thường kèm thoái hóa khớp, cho nên người béo phì cần cân bằng chế độ ăn kiêng từ từ để làm giảm tối đa những chấn động trên khớp. Vì vậy nếu bạn mắc các bệnh xương khớp chỉ cần điều chỉnh được bằng chế độ ăn uống hợp lý sẽ góp phần đạt kết quả điều trị như mong muốn.
Theo suckhoedoisong.vn

Dinh dưỡng bổ sung cho xương khớp

Bài viết này chúng ta sẽ tìm hiểu về dinh dưỡng để bổ sung cho xương khớp.
1. Dinh dưỡng nào cho xương khớp?
Trước tiên cần hiểu xương khớp được cấu tạo bởi nhiều thành phần, mỗi bộ phận bao gồm: cơ, dây chằng, sụn, xương, gân. Các thành phần này hoạt động một cách nhịp nhàng nhằm giúp cơ thể chúng ta có thể di chuyển, đây là chức năng rất quan trọng đổi với con người cũng là hoạt động điển hình của xương khớp. Tuy nhiên, vấn đề dinh dưỡng cho xương khớp lâu nay đang bị con người bỏ qua hoặc vô tình quên đi việc chăm sóc và nuôi dưỡng để các khớp khỏe mạnh dẫn đến nhiều người bị các benh xuong khop như thoái hóa khớp, thoat vi dia dem, viêm đa khớp dạng thấp,....
2. Dinh dưỡng cần thiết cho xương khớp
- Như chúng ta biết, trong cấu tạo của xương khớp mỗi thành phần có một chức năng khác nhau. Dây chằng có nhiệm vụ neo xương với xương, giữ cho khớp được vững; Gân nối xương với cơ và chuyển sức co của cơ vào xương; Sụn là lớp tế bào trong như thạch, rất bền dai, có thể ép và đàn hồi, không có mạch máu và dây thần kinh. Sụn có công dụng che chở đầu xương như lớp đệm, tránh sự mài xát khi khớp cử động. Tuy quan trọng như vậy nhưng sụn lại là những tế bào rất mỏng manh, khó nuôi cấy, dễ thoai hoa khop mà sự tái tạo lại rất khó khăn. Sụn chứa 75% nước. Khi khớp cử động, nước thấm qua lại màng hoạt dịch để lấy chất bổ dưỡng nuôi sụn. Vì thế, khi khớp bất động, sụn sẽ bị suy yếu. Sụn không có dây thần kinh nên không có “trách nhiệm” về cảm giác đau trong bệnh viêm khớp. Khớp nằm trong một cái túi, các tế bào ở mặt trong của túi tiết ra chất hoạt dịch lỏng, nhờn như dầu, giúp khớp trơn tru khi trườn lên nhau hoặc khi co duỗi, cử động. Hoạt dịch cũng là nguồn cung cấp chất bổ dưỡng cho sụn vì sụn không có mạch máu.
- Xương khớp cũng như cơ thể, cần được nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ và cung cấp đầy đủ những dinh dưỡng cần thiết để nó luôn khỏe mạnh phục vụ quá trình vận động của con người. Vì vậy, chế độ dinh dưỡng phù hợp cho cơ thể cũng chính là dinh dưỡng nuôi xương khớp để nó luôn hoạt động trơn tru và không gây đau nhức khi thay đổi thời tiết.
Dinh dưỡng cho xương khớp
Ảnh minh họa
3. Chế độ dinh dưỡng
- Cân bằng và đa dạng hóa việc thu nạp vitamin, khoáng chất, chất chống ô xy hóa và các chất dinh dưỡng khác. Đồng thời thực hiện chế độ ăn uống giảm cân đối với những bệnh nhân thuộc nhóm thừa cân, béo phì bởi những người thừa cân, béo phì cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới chứng đau nhức xương thoái hóa khớp. Người gầy yếu bị viêm đa khớp dạng thấp nên ăn nhiều bữa nhỏ để hấp thu dinh dưỡng tốt hơn. Đối với bệnh nhân bị thoai hoa khopviem da khop dang thap cần cung cấp lượng đạm nhiều hơn, sử dụng dần thực vật, dầu omega 3 và dầu cá. Nên ăn thịt heo, thịt gà, vịt, cá biển, tôm, cua, sò….. ăn nhiều rau và trái cây tươi như đu đủ, dứa, chanh, bưởi vì các loại trái cây này là nguồn cung ứng men kháng viêm và sinh tố C, 2 hoạt chất có tác dụng kháng viêm và hằng ngày cần uống đầy đủ nước. Đối với bệnh nhân bị Gút, cần hạn chế đạm, các loại thịt gà, thịt bò, nội tạng như gan, thận, tim.., cá, trứng, xúc xích, các loại đậu, măng tây, nấm, súp lơ. Hạn chế các chất béo từ mỡ động vật, không dùng các đồ uống có cồn như rượu, bia, không nên hút thuốc lá thay vào đó người bệnh nên ăn dầu đậu nành, dầu hạnh nhân... và ăn nhiều rau xanh như rau cải, rau mồng tơi…, trái cây như đu đủ nhằm cung cấp nhiều chất xơ và nguồn dinh dưỡng tốt. Người bị bệnh Gút mạn tính cần nghiêm túc thực hiện một chế độ dinh dưỡng phù hợp để giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, tiểu đường và béo phì.
- Cho tới nay, chưa có dược phẩm hay phương thức nào có thể phục hồi tế bào sụn, từ đó chữa dứt bệnh xương khớp để phòng ngừa và hạn chế các cơn đau tập luyện thể dục nhẹ nhàng, nghỉ ngơi khi đau, các động tác nhẹ nhàng có tác dụng thư giãn các khớp, tránh tình trạng để các khớp bị ì, ít hoạt động. Giảm cân là yếu tố quan trọng, bởi nó sẽ giúp giảm áp lực cho khớp. Người béo phì thường kèm thoái hóa khớp, cho nên người béo phì cần cân bằng chế độ ăn kiêng từ từ để làm giảm tối đa những chấn động trên khớp. Vì vậy nếu bạn mắc các bệnh xương khớp chỉ cần điều chỉnh được bằng chế độ ăn uống hợp lý sẽ góp phần đạt kết quả điều trị như mong muốn.
Theo suckhoedoisong.vn
Đọc thêm..